Pages

Subscribe:

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2016

Phát ngôn viên IS chết - đòn giáng nặng vào bộ máy kích động khủng bố

Phát ngôn viên của IS vừa bị tiêu diệt là kẻ đứng sau những thông điệp đe dọa, xúi giục những "con sói đơn độc" tấn công phương Tây.

phat-ngon-vien-is-chet-don-giang-nang-vao-bo-may-kich-dong-khung-bo
Phát ngôn viên của IS Abu Mohamed al-Adnani. Ảnh: Independent
Ngày 30/8, hãng tin Amaq, cơ quan truyền thông của IS cho biết Abu Muhammad al-Adnani, 39 tuổi, phát ngôn viên của IS đã chết tại Aleppo, Syria.
Theo Washington Post, Adnani sinh ra ở thị trấn Binnish, tỉnh Idlib, miền bắc Syria. Y nằm trong nhóm chiến binh chủ chốt của IS từng có quan hệ trực tiếp với Abu Musab al-Zarqawi, thủ lĩnh đã bị tiêu diệt của Al-Qaeda ở Iraq (AQI) - tổ chức tiền thân của IS. Nhà báo Italy Daniele Raineri cho rằng Adnani là một trong ba người cuối cùng còn sống trong số 43 người sáng lập ra IS.
"Ông ta là phát ngôn viên hiệu quả nhất và nổi tiếng nhất của IS. Cuộc khẩu chiến giữa al-Qaeda và IS, lý lẽ biện minh cho cuộc chiến chống phương Tây, tất cả đều do Adnani thực hiện", Will McCants, một cựu quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ đồng thời là một chuyên gia nghiên cứu IS, cho biết.
Giống như thủ lĩnh tối cao IS Abu Bakr al-Baghdadi, Adnani được cho là từng bị Mỹ giam giữ ở Iraq cách đây khoảng một thập kỷ. Y đã giúp tổ chức tiền thân của IS thoát khỏi bờ vực bị hủy diệt và tái xuất với tên gọi Nhà nước Hồi giáo.
Trong các thông báo về cái chết của Adnani, IS mô tả y là hậu duệ của bộ tộc và dòng tộc Nhà tiên tri Muhammad, manh mối cho thấy Adnani có thể đã được dọn đường để lên thay thế Abu Bakr al-Baghdadi, nếu thủ lĩnh tối cao IS bị tiêu diệt, McCants nhận xét.
Adnani cũng là kiến trúc sư chủ chốt của một bộ máy tuyên truyền khổng lồ sản xuất hàng nghìn video bao gồm những cảnh quay chặt đầu rùng rợn, giúp thu hút hàng nghìn tay súng nước ngoài đến gia nhập hàng ngũ IS ở Iraq và Syria.
Michael Weiss, tác giả một cuốn sách về IS, thì cho rằng Adnani chính là người quyền lực số hai trong nhóm.
Bộ Ngoại giao Mỹ từng mô tả y là "kênh quan trọng nhất để phát tán các thông điệp của IS". Cơ quan này treo giải thưởng 5 triệu USD cho người cung cấp thông tin giúp bắt giữ hoặc tiêu diệt y. Cuối năm ngoái, một quan chức tình báo cấp cao Mỹ tiết lộ Adnani mới là thành viên IS mà Mỹ muốn tiêu diệt nhất chứ không phải thủ lĩnh tối cao Abu Bakr al-Baghdadi.
Kích động khủng bố phương Tây
Mặc dù có rất ít thông tin về cấu trúc và cách tổ chức, lên kế hoạch tấn công ở nước ngoài của IS, các quan chức Mỹ và các chuyên gia chống khủng bố vẫn cho rằng Adnani đóng vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm các thành viên mới ở châu Âu và những nơi khác, rồi sau đó huấn luyên họ và cử họ trở về nước để thực hiện các vụ tấn công.
Tổ chức Dự án chống chủ nghĩa cực đoan cho biết Adnani là thủ lĩnh của Emni, một đơn vị IS chịu trách nhiệm phát động các cuộc tấn công bên ngoài Trung Đông.
Chuyên gia chống khủng bố Laith al-Khouri nhận định Adnani là giọng nói chính đằng sau những thông điệp đe dọa đối với phương Tây. Trong các thông điệp xúi giục, Adnani đã đề ra và truyền bá chương trình bạo lực của IS, liên tục nhấn mạnh ưu tiên tấn công nhằm vào phương Tây. Trong tháng Ramadan của người Hồi giáo năm nay, một bản ghi âm được cho là của Adnani đã xúi giục các chiến binh thực hiện "tháng đánh chiếm và jihad. Hãy chuẩn bị, sẵn sàng để tạo ra một tháng tai họa ở khắp mọi nơi cho những kẻ ngoại đạo".
Trong một bài viết đăng trên Dabiq - tạp chí tiếng Anh của IS, y kêu gọi những con sói đơn độc tấn công vào các mục tiêu phương Tây và sử dụng bất cứ phương tiện tấn công nào sẵn có. "Nếu các anh không thể tìm được bom đạn, hãy ném đá, giết người bằng dao hay lái xe cán người", y viết.
Hai bình luận viên Missy Ryan và Greg Miller của Washington Post cho rằng cái chết của Adnani gây tổn thất cho IS trên hai lĩnh vực vốn giúp tổ chức này trở nên đặc biệt nguy hiểm: sử dụng mạng xã hội để tiếp cận người ủng hộ trên toàn cầu và khả năng lên kế hoạch, triển khai các hình thức bạo lực thô bạo nhất bên ngoài Iraq và Syria. Đây là một tổn thất rất lớn vào thời điểm IS đang vất vả chống đỡ các cuộc tấn công từ lực lượng được phương Tây hậu thuẫn cũng như chiến dịch không kích kéo dài hai năm qua, đã khiến IS mất nhiều đất và nguồn lực.
Chuyên gia phân tích khủng bố Rita Katz, giám đốc tổ chức SITE Intelligence, nhận định cái chết của Adnani là "đòn giáng mạnh" đối với IS.
"Vai trò của Adnani vượt ra khỏi tư cách phát ngôn viên. Y có liên quan chặt chẽ với các hoạt động bên ngoài Trung Đông", Thomas Joscelyn, học giả ở Quỹ Bảo vệ Dân chủ, có trụ sở ở Washington, nhận xét.
"Adnani đóng nhiều vai trò trong tổ chức. Vì vậy, IS sẽ phải cần đến vài người để thay thế y", Joscelyn nói.

Thăm Việt Nam, Pháp muốn đẩy mạnh xoay trục sang châu Á

Chuyến thăm của Tổng thống Pháp tới Việt Nam thể hiện mong muốn xích lại gần Đông Nam Á, đẩy mạnh tốc độ xoay trục sang châu Á của cường quốc hàng đầu châu Âu này.

tham-viet-nam-phap-muon-dy-manh-xoay-truc-sang-chau-a
Tổng thống Pháp Francois Hollande. Ảnh: AFP
Tổng thống Pháp Francois Hollande đang có chuyến thăm Việt Nam, đánh dấu lần đầu tiên một Tổng thống Pháp đến thăm Việt Nam trong 12 năm.
Theo các chuyên gia thuộc tạp chí "Chính sách đối ngoại" của Pháp, sau Thế chiến II, xây dựng châu Âu và hướng tới các nước láng giềng và khu vực châu Phi là những ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Pháp. Chính vì thế giai đoạn này, Paris đã ít để tâm tới châu Á, xem đây là một khu vực ở xa, nơi mà những lợi ích ít gắn với lợi ích quốc gia.
Tuy nhiên, bắt từ những năm 1990, châu Á đã được các lãnh đạo Pháp đánh giá là một thách thức chiến lược hàng đầu cần phải vượt qua, với hàng loạt bài diễn văn và văn bản chính thức nhấn mạnh tới tiềm năng kinh tế của khu vực.
Sách trắng về quốc phòng và an ninh quốc gia năm 2008 đã dành một vị trí ưu tiên cho khu vực châu Á và kêu gọi Pháp gia tăng gắn kết với châu lục này.
Tổng thống Pháp Francois Hollande, ngay khi lên nắm quyền đã thể hiện mong muốn đa dạng hoá sự hiện diện của Pháp tại châu Á-Thái Bình Dương, bất chấp việc phải cạnh tranh trực tiếp với Mỹ, quốc gia đang đẩy mạnh chiến lược hướng sang khu vực này nhằm hạn chế ảnh hưởng của Trung Quốc.
"Sự xoay trục về châu Á không phải là một hiệu ứng theo phong trào, mà vì Pháp muốn hiện diện ở một khu vực mà thế giới tương lai đang được xây dựng. Do vậy, rõ ràng châu Á-Thái Bình Dương sẽ là trung tâm của thế kỷ 21", cựu Ngoại trưởng Pháp Laurent Fabius phát biểu tại trụ sở Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tháng 8/2013.
Chuyên gia Odon Vallet thuộc đại học Sorbone nhận định Pháp có một phần lãnh thổ ở Thái Bình Dương đồng nghĩa với việc Pháp cũng là một cường quốc ở châu Á-Thái Bình Dương và có những lợi ích ở khu vực.
Đông Nam Á (một bộ phận quan trọng của châu Á-Thái Bình Dương) lại là khu vực năng động, có tăng trưởng kinh tế rất lớn, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng chung toàn cầu. Chính vì thế, trong những năm qua, quan điểm của Pháp đã thay đổi rất nhiều, theo hướng ngày càng xích lại gần khối này.
Tuy nhiên, ban đầu chiều hướng này bị hạn chế đáng kể bởi các nhà hoạch định chính sách hàng đầu tại Paris đã có những đánh giá chưa chính xác về vấn đề tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông và có thái độ không kiên quyết với Trung Quốc trong vấn đề này.
Theo Vallet, mặc dù Việt Nam và Pháp đã nâng cấp quan hệ lên mức đối tác chiến lược trong chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến Paris vào năm 2013, nhưng quan hệ thực tế giữa hai nước vẫn còn hạn chế so với tiềm năng và lịch sử ngoại giao "nồng nhiệt" giữa hai nước, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam là một quốc gia nằm trong khối cộng đồng Pháp ngữ.
Chuyến thăm đến Việt Nam bị bỏ lỡ của Tổng thống Hollande vào đầu năm 2015 cũng khiến xu hướng xích gần này bị chậm lại, bởi một số quốc gia Đông Nam Á cho rằng Pháp chưa thực sự ủng hộ lập trường của họ đối với các tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông.
Sau sự kiện đó quan điểm của Pháp đã thay đổi đáng kể. Giới lãnh đạo nước này nhận thức được rằng muốn đẩy mạnh xoay trục sang châu Á, cần xích lại gần hơn nữa với các quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam và Philippines.
Paris đã gián tiếp chỉ trích Bắc Kinh một cách mạnh mẽ hơn. Qua kênh chính thức, Pháp kêu gọi tất cả các bên liên quan tiến hành đàm phán, bởi vì đó là giải pháp duy nhất. Nhưng qua các kênh không chính thức, Pháp tỏ ra kiên quyết với Trung Quốc và ủng hộ nhiều hơn các quốc gia khác liên quan đến tranh chấp.
Gần đây tại Đối thoại Shangri-la năm 2016, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Jean-Yves Le Drian đã đề nghị các nước châu Âu thực hiện tuần tra hàng hải chung trên Biển Đông
Vì vậy, chuyến thăm Việt Nam lần này Tổng thống Hollande có thể tận dụng cơ hội bị bỏ lỡ vào năm 2015, tăng uy tín của Pháp ở Việt Nam.
Tờ L'express nhận định Tổng thống Hollande muốn thông qua chuyến thăm này tiếp tục đẩy mạnh tăng cường quan hệ với Việt Nam, một quốc gia có lịch sử gần gũi với Pháp, và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong khu vực Đông Nam Á nói riêng và châu Á nói chung, qua đó tăng củng cố chính sách tăng cường sự hiện diện ở châu lục.
"Tháp tùng Tổng thống Hollande đến Việt Nam lần này là một phái đoàn hùng hậu bao gồm hơn 50 lãnh đạo và quản lý các tập đoàn kinh tế hàng đầu của Pháp. Thông qua Việt Nam, Pháp đang thể hiện sự quan tâm ngày càng lớn tới Đông Nam Á nói riêng và châu Á nói chung", L'expressnhận định.

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2016

Canh bạc liều lĩnh Trung Quốc bày ra trên Biển Đông

Động thái quân sự hóa trên các đảo nhân tạo hé lộ toan tính của Trung Quốc nhằm kiểm soát Biển Đông, buộc Mỹ phải có hành động quyết liệt để chống lại.

canh-bac-lieu-linh-trung-quoc-bay-ra-tren-bien-dong
Nhà chứa máy bay và các cấu trúc lạ Trung Quốc xây dựng trên đá Chữ Thập của Việt Nam. Ảnh: CSIS
Với việc xây dựng các nhà chứa cho chiến đấu cơ, oanh tạc cơ và máy bay trinh sát, cùng một loạt tháp và cấu trúc hình tổ ong kỳ lạ trên các đảo nhân tạo bồi lấp phi pháp, Trung Quốc dường như đang bày ra một canh bạc trên Biển Đông để thách thức trật tự thế giới và khu vực, theoNational Interest.
Những hình ảnh vệ tinh mới được Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) ở Washington công bố cho thấy Trung Quốc đang xây dựng một loạt nhà chứa máy bay tại các đảo nhân tạo bồi lấp phi pháp trên đá Chữ Thập, đá Subi và đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Theo tiến sĩ Jerry Hendrix, chuyên gia cấp cao và là giám đốc Chương trình Đánh giá và Chiến lược Quốc phòng tại Trung tâm An ninh Mỹ Mới (CNAS), những cấu trúc lục lăng kỳ lạ mà Trung Quốc xây dựng cạnh các nhà chứa máy bay này chính là ụ tên lửa, chứng tỏ Bắc Kinh nhiều khả năng sẽ tuyên bố thiết lập vùng nhận dạng phòng không và khu vực quân sự trên Biển Đông.
Chuyên gia này đánh giá rằng Trung Quốc đã lựa chọn thời điểm cẩn thận để xây dựng các công trình trên, và các nhà hoạch định chiến lược của Mỹ sẽ phải chuẩn bị các phương án để bảo vệ hệ thống trật tự quốc tế đã được duy trì suốt 70 năm qua, nếu không sẽ phải chấp nhận sự sụp đổ của nó.
Theo quan sát của Hendrix, các nhà chứa máy bay trên đá Chữ Thập và Su Bi đã gần hoàn thành, trong khi công trình trên đá Vành Khăn vẫn còn đang trong giai đoạn xây dựng đầu tiên. Mỗi khu nhà chứa trên một đảo nhân tạo như vậy có thể chứa tới 24 chiến đấu cơ, giúp Trung Quốc có thể triển khai một phi đội tiền tiêu gồm 72 tiêm kích ở Biển Đông vào bất cứ lúc nào, gần gấp đôi phi đội tiêm kích chiến thuật trên tàu sân bay lớp Nimitz của Mỹ.
Với một phi đội máy bay hùng hậu như vậy, Trung Quốc có thể dễ dàng chiếm được ưu thế trên không ở Biển Đông trong một thời gian dài. Cấu trúc được gia cố của các nhà chứa máy bay trên đảo nhân tạo có thể bảo vệ chúng khỏi các cuộc tấn công khác nhau, trừ phi bị oanh tạc bằng vũ khí hạng nặng.
Ngoài các ụ tên lửa hình lục lăng vốn xuất hiện khá phổ biến trên đất liền Trung Quốc, trên các đảo nhân tạo còn mọc lên những cụm tháp được bố trí theo hình tam giác. Theo Hendrix, đây nhiều khả năng là một mạng lưới cảm biến đồng bộ có thể bao quát nhiều phổ radar khác nhau.
Trong trường hợp Trung Quốc quyết định đặt cược lớn vào ba đảo nhân tạo này, họ có thể bố trí, lắp đặt các loại vũ khí tối tân, và về cơ bản sẽ đảo ngược cán cân sức mạnh trong khu vực, Hendrix nhận định.
Chẳng hạn như nếu Trung Quốc bố trí các cụm tên lửa diệt hạm YJ-62 trên cả ba đảo nhân tạo này, họ sẽ gần như kiểm soát toàn bộ cửa ngõ phía nam của Biển Đông đối với các tàu quân sự và thương mại nước ngoài. Khi bổ sung thêm hệ thống tên lửa phòng không HQ-9A có tính năng tương tự S-300 của Nga, Bắc Kinh có thể hạn chế hoạt động của các máy bay chiến thuật trong khu vực, chỉ ngoại trừ máy bay tàng hình F-22 và F-35.
canh-bac-lieu-linh-trung-quoc-bay-ra-tren-bien-dong-1
Các ụ tên lửa hình lục lăng Trung Quốc xây dựng trên các đảo nhân tạo. Ảnh: CSIS
Các chiến lược gia quân sự Mỹ sẽ không thể tự tin về khả năng sống sót của các chiến đấu cơ thế hệ 4 của mình như tiêm kích F-16 và tiêm kích hạm FA-18 Hornet trong trường hợp căng thẳng với Trung Quốc trên Biển Đông leo thang. Nếu Trung Quốc đi xa tới mức bố trí "sát thủ diệt tàu sân bay" DF-21D trên ít nhất một đảo nhân tạo, hải quân Mỹ có thể sẽ không còn được tự do tiếp cận căn cứ ở Singapore, và buộc phải đi tới Australia, Trân Châu Cảng và Nhật Bản.
Thời cơ
Một khi các nhà chứa máy bay và ụ tên lửa hoàn thành, chiến đấu cơ và tên lửa Trung Quốc nhiều khả năng sẽ được ồ ạt kéo đến và lắp đặt vào giữa đêm, khiến người Mỹ phải giật mình vào sáng hôm sau, Hendrix dự đoán.
Tuy nhiên, chuyên gia này cho rằng Trung Quốc sẽ không dại gì manh động ngay trước thềm cuộc bầu cử tổng thống sắp diễn ra ở Mỹ, để tự phơi mình trên mặt báo trong một chiến dịch tranh cử vốn trở nên rất khó đoán định. Tuy nhiên, Bắc Kinh cũng sẽ không chờ đợi đến khi tổng thống mới của Mỹ tuyên thệ nhậm chức vào tháng một năm sau.
Bởi vậy, Trung Quốc rất có thể sẽ chờ thời cơ, ra tay đúng vào giai đoạn chuyển giao quyền lực của nước Mỹ, với niềm tin rằng Tổng thống Barack Obama trong những ngày cuối của nhiệm kỳ sẽ chấp nhận một hiện trạng mới trên Biển Đông mà không phản ứng quá quyết liệt.
Theo giới phân tích, chính quyền Mỹ hiện nay và trong tương lai phải có những động thái quyết liệt để ngăn chặn toan tính này của Trung Quốc, nhằm đảm bảo Biển Đông luôn là một vùng biển hòa bình, ổn định theo luật pháp quốc tế.
Chiến lược bành trướng, mở rộng quyền kiểm soát của Trung Quốc chỉ phát huy hiệu quả cao nhất khi các hành động của họ không thu hút được sự chú ý quá lớn của dư luận thế giới. Việc gia tăng những lời chỉ trích của thế giới đối hoạt động tăng cường quân sự hóa trên các đảo nhân tạo trên Biển Đông, nơi Tòa Trọng tài đã bác bỏ "quyền lịch sử" mà Trung Quốc đơn phương tuyên bố, sẽ ngày càng đặt Bắc Kinh vào thế khó.
canh-bac-lieu-linh-trung-quoc-bay-ra-tren-bien-dong-2
Tiêm kích J-11 của Trung Quốc. Ảnh: PLANF
Cộng đồng quốc tế có thể tiếp tục gia tăng sức ép buộc Trung Quốc phải từ bỏ canh bạc liều lĩnh trên Biển Đông bằng cách khai thác một loạt biện pháp cấm vận về kinh tế và công nghệ với Trung Quốc vì cách hành xử bất chấp luật pháp quốc tế. Ngoài ra, quân đội Mỹ có thể kết hợp với các đối tác trong khu vực để tiến hành một loạt cuộc diễn tập quân sự trên vùng biển quốc tế ở Biển Đông, để làm rõ với Trung Quốc rằng những động thái ngang ngược của họ không được chào đón ở khu vực.
Nếu Mỹ và các đối tác trong khu vực không thực hiện những bước này, Trung Quốc có thể coi đó là tín hiệu "bật đèn xanh" để họ lấn tới, tuyên bố thiết lập Vùng Nhận dạng Phòng không và khu vực quân sự ở Biển Đông. Đến lúc đó, Mỹ sẽ phải đứng trước hai lựa chọn, hoặc là gây chiến với Trung Quốc, hoặc cam chịu để có hòa bình bằng cách chấp nhận sự yếu thế của trật tự thế giới hiện nay, tiến sĩ Hendrix nhấn mạnh.

Liệu Nhật có để Thiên hoàng thoái vị

Mong muốn nghỉ ngơi của Thiên hoàng được nhiều người dân thông cảm nhưng cũng có thể mở ra những vấn đề tranh luận mới cho đất nước.

lieu-nhat-co-de-thien-hoang-thoai-vi
Nhật hoàng Akihito. Ảnh: Reuters
Nhật hoàng Akihito, 82 tuổi, hôm 8/8 có bài phát biểu trên truyền hình tỏ ý muốn thoái vị vì sức khỏe yếu. Nhật Bản là nước quân chủ lập hiến, luật pháp nước này hiện không có quy định về việc thoái vị. Nhật hoàng Akihito không thể công khai yêu cầu sửa đổi luật pháp vì hiến pháp Nhật Bản năm 1947 cấm Thiên hoàng can thiệp vào chính trị.
Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cho biết chính phủ sẽ xem xét nghiêm túc bài phát biểu của Nhật hoàng. Tuy nhiên, theo NYTimes, thay đổi không đến dễ dàng tại Nhật Bản, chính phủ phải đối mặt với vấn đề hóc búa: Họ có thể bị chỉ trích cả khi cho phép thay đổi hoặc ngăn chặn việc đó.
Nếu chính phủ sửa đổi luật để đưa ra quy định về việc truyền ngôi, họ có thể làm dấy lên mối lo ngại về sức ảnh hưởng của họ đối với gia đình hoàng tộc, các nhà phân tích nhận xét.
"Cả hai bên cánh tả và cánh hữu sẽ phải thận trọng trong việc bảo đảm quá trình này không làm suy yếu thể chế", Sheila A. Smith, một chuyên gia Nhật Bản tại Hội đồng Quan hệ đối ngoại, nói. 
Tuy nhiên, nếu chính phủ chần chừ kéo dài thời gian thực hiện mong muốn của Nhật hoàng, họ có thể khiến nhiều người dân bất bình.
"Đây là một quốc gia lão hóa, và sẽ có rất nhiều người thông cảm với mong muốn nghỉ ngơi của Nhật hoàng", Tobias Harris đến từ Teneo Intelligence, một công ty tư vấn rủi ro chính trị, đánh giá.
Cuộc điều tra dư luận được thực hiện bởi truyền thông Nhật Bản cho thấy đa phần công chúng ủng hộ mong muốn thoái vị của Nhật hoàng Akihito. Có đến 85% số người được hỏi nói rằng họ ủng hộ việc sửa đổi Luật Hoàng tộc để cho phép việc đó.
"Chúng ta luôn nói về Nhật hoàng với tinh thần tôn kính, nhưng lại trói buộc ông ấy như một nô lệ", Daisuke Kodaka, 34 tuổi, một nhân viên tại công ty mỹ phẩm tại Tokyo, nói. "Ông ấy là biểu tượng của chúng ta nhưng ông ấy lại không được hưởng quyền như người bình thường. Chúng ta nên công nhận quyền lợi của ông ấy".
Yuri Kobayashi, một nhân viên bán thời gian từ Funabashi, thành phố gần Tokyo, cho biết cô nhận ra làm hoàng đế không phải là công việc dễ dàng. "Tôi nhận ra rằng Nhật hoàng đã cố gắng hết sức. Tôi muốn ông ấy được nghỉ ngơi".
"Trong lịch sử Nhật Bản đã có nhiều hoàng đế thoái vị", Takeshi Hara, một chuyên gia về hoàng tộc tại Đại học Mở của Nhật Bản, cho biết. Hơn một nửa số quốc vương trong lịch sử Nhật Bản đã rời ngôi, thường để nghỉ ngơi tại các tu viện Phật giáo. Chỉ đến thế kỷ 19, khi các nhà lãnh đạo Nhật Bản khởi động phong trào thần thánh hóa Thiên hoàng thì việc thoái vị mới trở thành không thể. Ông Hirohito, cha của Nhật hoàng Akihito, là vua cuối cùng ủng hộ việc thần thánh hóa Thiên hoàng.
Việc sửa đổi pháp luật cũng có thể hồi sinh một vấn đề gây tranh cãi: tranh luận về việc nữ giới có được truyền ngôi vua hay không. Tại Nhật, chỉ có nam giới mới được thừa kế ngai vàng và quy định này ngày càng được đem ra bàn luận nhiều hơn. Một thập kỷ trước, trong một cuộc tranh luận về việc liệu có nên thay đổi luật giúp nữ thành viên hoàng tộc cũng được nối ngôi, những thành viên bảo thủ trong đảng Dân chủ Tự do của ông Abe đã kiên quyết phản đối.
Thái tử Naruhito có một con gái, em trai của ông có hai con gái và một con trai là hoàng tử Hisahito - nam thành viên duy nhất trong thế hệ trẻ của hoàng tộc. Khi Hoàng tử Hisahito ra đời vào năm 2006, Hoàng tử đã làm lắng xuống các cuộc tranh luận về vị trí "nữ vương", ít nhất là trong thời điểm hiện nay. Tuy nhiên, do có rất ít nam giới trong hoàng tộc, trong tương lai vấn đề này có thể sẽ nóng trở lại.
Chính phủ của ông Abe đã thúc đẩy trao quyền lực cho phụ nữ trong nhiều lĩnh vực, nhưng ít người cho rằng việc này có thể mở rộng đến hoàng tộc.
"Thêm một tình huống rắc rối được mở ra", Kenneth Ruoff, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản tại Đại học Portland, nhận xét. Ông Rouff cho rằng một khi ông Abe mở ra cuộc tranh luận về việc sửa đổi Luật Hoàng tộc, công dân sẽ sử dụng sự thay đổi đó để nhắm vào vấn đề lớn hơn là bình đẳng giới.
"Chúng tôi khá chắc chắn rằng mọi người sẽ bàn luận vấn đề tại sao phụ nữ không được phép thừa kế ngai vàng", ông nói.

Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2016

Kẻ khóc người cười vì Anh chọn 'chia tay' EU

Việc Anh rời EU có thể tạo cơ hội để một số thành viên của nhóm hợp tác chặt chẽ hơn song cũng tạo ra không ít thách thức đối với quá trình hội nhập trong khối.
  • Người dân Anh chọn rời EU  /  Thủ tướng Anh tuyên bố sẽ từ chức
ke-khoc-nguoi-cuoi-vi-anh-chon-chia-tay-eu
Kết quả kiểm phiếu trưng cầu dân ý ở Anh. Đồ họa: BBC
Sau cuộc trưng cầu dân ý lịch sử ngày 24/6, đa số người dân Anh nhất trí với phương án rời bỏ Liên minh châu Âu (EU), hay còn gọi là Brexit. Điều này không có nghĩa họ sẽ ra đi ngay lập tức, nhưng sớm muộn, nước Anh cũng sẽ không còn là một phần của EU, theo Vox.
Theo kế hoạch, "cuộc chia tay" giữa Anh và EU dự kiến diễn ra trong vòng hai năm. Chính phủ Anh cùng với EU sẽ bàn thảo để tìm ra các biện pháp nhằm ổn định mối quan hệ kinh tế, tài chính cũng như xây dựng một khuôn khổ mới nhằm giải quyết câu hỏi nước Anh sẽ liên quan tới khối như thế nào.
Đứng trước một bước thay đổi lịch sử gây nhiều tranh cãi, tình thế "kẻ khóc, người cười" là điều không thể tránh khỏi. Bên ủng hộ hân hoan trong khi phe phản đối chắc chắn không tránh khỏi tâm lý thất vọng, hoang mang, quan sát viên Matthew Yglesias bình luận.
Kẻ thắng
Giới chuyên gia nhận định các nước Nam Âu là thành viên của khu vực đồng tiền chung châu Âu Eurozone sẽ là bên hưởng lợi khi Anh rời EU. Nhà kinh tế học người Anh Andrew Lilico cho rằng việc nước này ra đi sẽ tạo cơ hội để những phần còn lại thuộc EU hội nhập sâu hơn vào hoạt động của khối.
Theo Vox, Eurozone là khu vực tương đối kỳ lạ. Việc nhiều quốc gia sử dụng chung một loại tiền tệ nhưng lại không có cùng hệ thống thuế hay phúc lợi tích hợp sẽ dẫn tới một hệ quả là khi một nước rơi vào tình cảnh khó khăn về kinh tế, họ sẽ không có lối thoát.
Một quốc gia thực sự độc lập khi đối mặt với khủng hoảng tài chính sẽ chứng kiến sự sụt giảm giá trị nhanh chóng của đồng tiền. Khi đồng tiền mất giá, đất nước đó sẽ lập tức biến thành một địa điểm thu hút khách du lịch, một nhà xuất khẩu hấp dẫn hay một thỏi nam châm lôi kéo nhiều nguồn đầu tư hơn. Nhờ thế, họ sẽ rút ngắn được thời gian khôi phục sau khủng hoảng.
Còn thành viên của hệ thống phúc lợi tích hợp liên bang, trong trường hợp gặp khó khăn về kinh tế, họ vẫn có thể duy trì sự ổn định nhờ dòng tiền liên bang đổ vào để giữ vững hệ thống y tế, hưu trí và trợ cấp thất nghiệp. Chính quyền địa phương không gánh việc giải cứu nợ nhưng sẽ hỗ trợ những người dân bị ảnh hưởng nặng nề ổn định trở lại, đồng thời giữ cho các doanh nghiệp sống sót.
Tuy nhiên, các nước thành viên Eurozone thì khác. Họ đang lấp lửng giữa hai thái cực. Họ không phải là những quốc gia độc lập hoàn toàn và cũng không được tích hợp vào một nhà nước phúc lợi chung. Điều đó đồng nghĩa khi gặp khủng hoảng, họ nắm trong tay rất ít công cụ đẩy nhanh tốc độ khôi phục kinh tế.
Để tiến tới một nhà nước phúc lợi tích hợp là một dự án dài hơi đối với họ và chắc chắn không thể diễn ra trong một sớm một chiều. Song việc Anh rời EU sẽ là động lực lớn thúc đẩy quá trình trên nhanh chóng thành hiện thực, Yglesias đánh giá.
Nền kinh tế Anh nhìn chung giàu có hơn các nước thành viên EU. Như vậy, người dân nước này khi tham gia EU có thể phải trả mức thuế cao hơn trong khi chỉ nhận được những dịch vụ tương đương, Đây là lý do vì sao Anh lâu nay tỏ ra chần chừ, hoài nghi, không muốn EU hợp nhất chặt chẽ hơn. Vậy nên, với một châu Âu không có Anh, người ta hoàn toàn có thể nghĩ tới viễn cảnh mà ở đó EU đạt đến một mức độ thống nhất cao về cả hệ thống tài chính lẫn thể chế.
ke-khoc-nguoi-cuoi-vi-anh-chon-chia-tay-eu-1
Cựu thị trưởng London Boris Johnson, ủng hộ rời khỏi EU, cùng vợ tại một điểm bỏ phiếu ở bắc London. Ảnh: Reuters
Người bại
Kẻ thất bại đầu tiên sau quyết định lịch sử này chính là nền kinh tế Anh. Trong ngắn hạn, quyết định rời EU của Anh sẽ bắt đầu một giai đoạn bất ổn và nhiều bấp bênh đối với nền kinh tế nước này. Những khoản đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Anh tạm thời gián đoạn. Các nhà đầu tư án binh bất động để đợi xem điều gì sẽ xảy ra trong dài hạn.
Đồng bảng Anh phải đối mặt với nguy cơ rớt giá. Giới phân tích cũng không loại trừ kịch bản nước Anh rơi vào suy thoái. Mức độ nghiêm trọng cũng như thời gian diễn ra suy thoái nhanh hay chậm phụ thuộc vào những chính sách ngắn hạn của chính quyền Anh cũng như Ngân hàng Quốc gia.
Nhiều công ty đa quốc gia hiện có xu hướng đặt trụ sở làm việc ở châu Âu tại thủ đô London, Anh. Ngoài là một nơi lý tưởng để sống, cộng đồng dân cư nói tiếng Anh ở đây cùng mức thuế thấp so với tiêu chuẩn châu Âu biến Anh thành một địa điểm hấp dẫn để đặt trụ sở. Khi Anh còn là thành viên EU, các công ty nước ngoài hoạt động tại đây có thể dễ dàng thực hiện các giao dịch khắp châu lục.
Những nhà vận động bỏ phiếu rời EU nói rằng sẽ cố gắng đàm phán để giữ lại lợi thế trên song không có gì đảm bảo họ sẽ thành công. Pháp dường như sẽ là nước phản đối bởi nếu các công ty đa quốc gia không thể đặt trụ sở ở London, họ sẽ chuyển hướng sang Paris. Tình trạng tương tự cũng xảy ra đối với ngành dịch vụ tài chính, ông Yglesias nhấn mạnh.
Một nạn nhân nữa của Brexit là Thủ tướng Anh David Cameron, người đã đặt cược cả sinh mệnh chính trị của mình vào cuộc trưng cầu dân ý. Sau khi có kết quả bỏ phiếu, ông Cameron tuyên bố sẽ từ chức, bởi "không còn phù hợp để làm thuyền trưởng chèo lái con thuyền Anh đến bến bờ tiếp theo nữa".
Ông cho hay hiện chưa có lịch trình từ chức cụ thể, nhưng sẽ hướng đến "một thủ tướng mới khi hội nghị đảng Bảo thủ cầm quyền bắt đầu vào tháng 10". Thủ tướng Anh có lập trường thân EU và ủng hộ phương án ở lại khối liên minh này.
ke-khoc-nguoi-cuoi-vi-anh-chon-chia-tay-eu-2
Thủ tướng Anh David Cameron. Ảnh: AFP
Bên cạnh đó, theo Yglesias, các nước Bắc và Đông Âu, những quốc gia có nhiều tầng lớp chính trị ủng hộ nhiệt tình quan điểm EU hợp nhất, cũng sẽ chịu ảnh hưởng từ quyết định rời đi của Anh. Bị tác động đầu tiên sẽ là 6 thành viên sáng lập, gồm Đức, Pháp, Italy, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg, cùng một số nước khác như Tây Ban Nha hay Hy Lạp. Những quốc gia này coi EU như nền tảng giúp họ đảm bảo tính ổn định của hệ thống chính trị.
Nhóm chịu thiệt thòi tiếp theo bao gồm Đan Mạch, Thụy Điển hay các nước Đông và Trung Âu như Ba Lan hoặc Czech. Giống với Anh, họ đều lựa chọn không sử dụng đồng tiền chung của nhóm Eurozone.
Anh là quốc gia có tiếng nói quan trọng hơn cả trong nhóm chủ trương không sử dụng đồng tiền chung của Eurozone. Việc Anh ra đi sẽ làm suy yếu sức ảnh hưởng của nhóm ở Brussels, tạo điều kiện cho trường phái tư tưởng hướng tới xây dựng EU thành "một liên minh gần gũi hơn bao giờ hết" giành chiến thắng trong các cuộc tranh luận về chính sách tương lai, Yglesias dự đoán.

Vì sao người Anh nằng nặc chia tay EU

Sự nổi loạn của các nghị sĩ, cuộc khủng hoảng nhập cư và sự trỗi dậy của đảng UKIP đã khiến nước Anh ra quyết định lịch sử rời khỏi khối EU.
vi-sao-nguoi-anh-nang-nac-chia-tay-eu
Thủ tướng Anh David Cameron. Ảnh: Reuters
Ngày 24/6, người dân Anh đã có một quyết định lịch sử sau cuộc trưng cầu dân ý, khi đa số họ lựa chọn phương án Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (EU). Cuộc "ly hôn" đình đám này không chỉ là kết quả của 4 tháng vận động quyết liệt của phe ủng hộ phương án rời EU (Brexit), mà còn là hậu quả của 4 thập kỷ âm ỉ của chủ nghĩa hoài nghi châu Âu (Euroscepticism), theo Guardian.
Các nhà vận động đã từng phát động phong trào rút khỏi EU ngay khi Anh gia nhập khối thị trường chung này vào năm 1973. Chính sách chính thức của Công đảng trong một thập kỷ sau đó là ủng hộ rời bỏ EU, và một bộ phận đáng kể thành viên đảng Bảo thủ chưa bao giờ thoải mái với tư tưởng mình là người của EU.
Vấn đề này đã ám ảnh nhiệm kỳ của cựu thủ tướng John Major, lắng dịu dưới thời của Tony Blair trước khi trỗi dậy một lần nữa khi nền kinh tế rơi vào ảm đạm trong những năm cuối của thập niên trước.
Đương kim Thủ tướng David Cameron và đảng của ông đã tìm cách né tránh vấn đề đó sau khi nhậm chức, nhưng rồi ông nhận ra rằng không thể nào chống lại được sức ép từ backbencher – các nghị sĩ thứ yếu ở nghị viện – trong việc tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về việc rời EU, trong bối cảnh đảng UKIP chống nhập cư và chống EU trỗi dậy ngày càng lớn mạnh.
Thuật ngữ Brexit lần đầu tiên xuất hiện vào năm 2012 và nhanh chóng trở nên phổ biến, trở thành một phong trào chính trị chính thống, rầm rộ lôi kéo nước Anh vào một vòng xoáy lớn, đẩy quốc gia này vào một quyết định "không thể vãn hồi" về việc rời khỏi EU.
Cuộc nổi loạn của các backbencher
Thủ tướng Cameron vẫn luôn tìm cách làm hài lòng các nghị sĩ thứ yếu, những người luôn ấp ủ nỗi hoài nghi về châu Âu (Eurosceptic), chẳng hạn như rút khỏi nhóm trung hữu EPP trong nghị viện châu Âu.
Thế nhưng, điều đó không bao giờ là đủ đối với những người cánh hữu trong đảng Bảo thủ, những nghị sĩ dường như không chịu dừng bước trước bất cứ thứ gì để giải phóng Anh khỏi cái mà họ gọi là "sự thống trị của Brussels", kể cả việc xé nát chính đảng của mình.
Rắc rối bắt đầu đến với ông Cameron vào năm 2010, khi số lượng thành viên Eurosceptic trong đảng của ông chiếm đa số, và họ bắt đầu gây sức ép với ông để tổ chức cuộc trưng cầu dân ý.
Đến tháng 10/2011, Cameron nhận ra rằng ông đang đối mặt với một cuộc "chiến tranh du kích" với phe Eurosceptic, sau khi 81 nghị sĩ đảng Bảo thủ phát động một cuộc "nổi dậy" ủng hộ trưng cầu dân ý. Đến tháng 7/2012, nghị sĩ John Baron gửi một lá thư với chữ ký của 100 đồng nghiệp cho ông Cameron, yêu cầu tổ chức trưng cầu dân ý.
Cameron nghĩ rằng ông đã giành được một chiến thắng kiểu Margaret Thatcher khi phủ quyết việc tăng ngân sách EU vào cuối năm đó, nhưng sự kiện này có vẻ như càng thổi bùng ngọn lửa chống Brussels trong xã hội Anh. Đến tháng 12/2012, nghị sĩ Boris Johnson công khai kêu gọi Cameron tìm cách đàm phán lại về mối quan hệ của Anh với EU trước khi kêu gọi tổ chức trưng cầu dân ý.
Đầu năm 2013, Thủ tướng Cameron dường như đã đầu hàng trước sức ép từ các nghị sĩ, khi cam kết sẽ đàm phán lại với EU và tổ chức trưng cầu dân ý vào cuối năm 2017. Các nguồn tin thân cận cho hay khi đó, ông Cameron đã tin tưởng rằng ông có thể xoa dịu tình hình bằng cách đưa ra lời hứa hẹn như vậy.
Khi đó ông Cameron cũng nghĩ rằng ông sẽ không bao giờ phải tổ chức trưng cầu dân ý, bởi đảng Bảo thủ không tin họ sẽ giành được đa số trong cuộc bầu cử năm 2015. Thế nhưng chính lời hứa hẹn này là chất xúc tác khiến ông Cameron giành chiến thắng vào năm đó, đẩy ông vào thế không còn đường thoái lui.
Cuộc khủng hoảng nhập cư
Các cuộc thăm dò ý kiến cho thấy nỗi bất bình với tình trạng người nhập cư tràn vào Anh là lý do lớn nhất khiến người Anh ủng hộ Brexit, khi nhiều người cho rằng mục đích của cuộc trưng cầu là hỏi họ có vui vẻ chấp nhận đánh đổi tự do đi lại ở châu Âu lấy tự do thương mại hay không.
Nỗi bất an của người dân trước làn sóng người tị nạn càng gia tăng cùng với sức ép ngày càng lớn từ thị trường lao động và dịch vụ công. Trước khi đắc cử, ông Cameron hứa hẹn sẽ giảm số lượng người nhập cư xuống vài chục nghìn chứ không phải là vài trăm nghìn.
vi-sao-nguoi-anh-nang-nac-chia-tay-eu-1
Người Anh biểu tình phản đối làn sóng nhập cư ồ ạt. Ảnh: Guardian
Sau khi tái đắc cử năm 2015, ông vẫn không thực hiện được lời hứa này, khi vẫn có hơn 300.000 người nhập cư tràn vào Anh, khiến người dân giảm sút niềm tin vào khả năng lãnh đạo của ông, góp phần tạo nên tư tưởng rằng các chính trị gia Anh bất lực trong việc ngăn chặn làn sóng nhập cư từ EU.
Phe vận động cho Brexit ban đầu tập trung nhiều hơn vào vấn đề kinh tế và chủ quyền, nhưng nhanh chóng nhận ra rằng việc "kiểm soát làn sóng nhập cư" mới là thông điệp mạnh mẽ nhất. Họ cũng liên hệ cuộc khủng hoảng nhập cư này với các vấn đề khác của xã hội Anh, như thiếu trường tiểu học, thu nhập sụt giảm…
Đảng UKIP
Ông Cameron có lẽ không bao giờ phải tổ chức trưng cầu dân ý nếu như đảng Độc lập Anh (UKIP) và thủ lĩnh Nigel Farage chống nhập cư và chống cả EU không trỗi dậy. Tháng 1/2013, đảng UKIP lần đầu tiên giành được tới 1/4 số phiếu bầu trong cuộc bầu cử địa phương ở Anh, và nhiều người lo ngại rằng một số nghị sĩ đảng Bảo thủ có thể "đào tẩu" sang UKIP nếu ông Cameron không giữ lời hứa tổ chức trưng cầu dân ý.
Dù ông Cameron đã cam kết sẽ tổ chức trưng cầu dân ý, UKIP và Farage vẫn giành thêm được hàng triệu phiếu bầu trong cuộc bầu cử năm 2015, trong đó có nhiều cử tri từng ủng hộ đảng Bảo thủ hoặc Công đảng. Sự xuất hiện liên tục của Farage trên truyền thông đã góp phần "đóng đinh" vấn đề nhập cư với EU trong dư luận, dọn đường cho chiến dịch vận động Brexit thành công.

Thứ Ba, 17 tháng 5, 2016

Carl Thayer: 'Trung Quốc sẽ lợi dụng bầu cử Mỹ để hung hăng hơn trên Biển Đông'

Bắc Kinh có thể có những hành động kiên quyết hơn, trước khi ông Barack Obama rời Nhà Trắng, nhằm tránh gây căng thẳng với tân tổng thống Mỹ.

trung-quoc-se-hung-hang-hon-khi-toa-pca-ra-phan-quyet
Chiến hạm của Mỹ tuần tra sát đảo Chữ Thập do Trung Quốc xây dựng trái phép tuần trước. Ảnh: AP
Giáo sư Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Australia, Đại học New South Wales, trao đổi với VnExpress về ý đồ của Washington khi điều tàu USS William P. Lawrence đến tuần tra trong phạm vi 12 hải lý quanh đá Chữ Thập ở quần đảo Trường Sa. 
- Vì sao Mỹ chọn thời điểm này để thực hiện tuần tra?
- Việc Washington thực hiện chuyến tuần tra tự do hàng hải (FONOP) lần thứ ba này khá bất ngờ vì quan chức Mỹ từng tuyên bố chuyến thứ ba bị hoãn lại. Có hai giả thuyết: Một là việc ngưng chuyến thứ ba khiến một số nghị sĩ Quốc hội chỉ trích chính quyền của Tổng thống Barack Obama, do đó quyết định đã thay đổi. Hai là các quan chức quân sự cấp cao của Mỹ đã cảnh báo rằng Trung Quốc có ý đồ thực hiện một số hành động tại bãi cạn Scarborough. Do đó chuyến FONOP thứ ba này được thông qua nhằm đưa ra tín hiệu với Bắc Kinh "cần phải lùi lại". 
Đá Chữ Thập là một tổng hành dinh tác chiến được nhắm tới dành cho các lực lượng của Trung Quốc ở Trường Sa. Các thông tin bị rò rỉ của truyền thông tại Washington và Canberra cho thấy Trung Quốc chuẩn bị hành động để "thể hiện sự tức giận của mình" với quyết định sắp tới của Tòa trọng tài thường trực (PCA) với vụ kiện của Philippines.
Mỹ quan ngại về hoạt động khảo sát của Trung Quốc gần bãi cạn Scarborough của Philippines. Mỹ và Australia cũng lưu ý đến việc một quan chức quân sự cấp cao Trung Quốc đến thăm khu vực này. Chuyến thăm tương tự gần nhất diễn ra vào 2014 khi Trung Quốc bắt đầu xây dựng các đảo nhân tạo ở Trường Sa. Mỹ đã tăng áp lực với Trung Quốc bằng cách đưa các máy bay A-10 và HH-60 từ Philippines đến tuần tra gần bãi cạn Scarborough. Điều này được thực hiện để ngăn cản Bắc Kinh.
- Trung Quốc đã điều hai chiến đấu cơ và ba tàu chiến đã theo sát tàu Mỹ gần đá Chữ Thập, yêu cầu rời khỏi khu vực. Ông đánh giá thế nào về phản ứng lần này của Trung Quốc?
Trung Quốc luôn cảnh báo tàu Mỹ ở Biển Đông bất kể họ đi qua hay thực hiện việc tuần tra. Tuy nhiên, các quan chức Mỹ đánh giá Trung Quốc lần này hành xử "chuyên nghiệp hơn" khi không gây ra những cuộc chạm trán nguy hiểm.
Các hành động của Trung Quốc đều nằm trong một trò chơi. Trong tất cả các vụ việc, chiến dịch của Trung Quốc là tuyên bố một cách giả dối rằng họ "đuổi Mỹ ra khỏi khu vực". Kiểu hành động này là "sự bình thường mới" giữa hai lực lượng quân sự. Hành động của Trung Quốc cũng là sự "thể hiện" nhằm tuyên truyền cho dư luận trong nước.
- Dự báo của ông về diễn biến trên biển từ nay đến cuối năm? 
Thực tế thì ASEAN, nước có tranh chấp hay Mỹ không ngăn chặn được Trung Quốc tiếp tục củng cố hiện diện của mình ở Biển Đông. Bắc Kinh đã đưa ra một cuộc tấn công về mặt ngoại giao để thuyết phục các nước nhỏ hơn xác nhận về mặt chính trị rằng "các cường quốc bên ngoài không nên liên quan đến tranh chấp ở đây". Trung Quốc đã xoay xở để xây dựng xong các đảo nhân tạo và đối phó được với sự quấy rầy với các tàu quân sự, máy bay cũng như ngư dân Philippines
Căng thẳng ở Biển Đông sẽ tăng rõ rệt khi PCA đưa ra quyết định về vụ kiện của Philippines. Trung Quốc sẽ bác bỏ hoàn toàn và có thể thực hiện một số hành động khiêu khích để thể hiện rằng "luật pháp quốc tế không thể kiềm chế các hành động của họ". 
Mỹ sẽ dẫn đầu cộng đồng quốc tế trong việc lên án Trung Quốc về các hành động này. Trung Quốc sẽ lợi dụng việc Mỹ và Philippines đang thực hiện chuyển giao quyền lực để có những thay đổi trên biển. Nhiều nhà phân tích cho rằng Trung Quốc sẽ hành động trước khi Obama rời Nhà Trắng, nếu không các động thái của Trung Quốc sẽ được coi là thách thức trực tiếp với tân tổng thống Mỹ. Điều này có thể gây nên sự xung đột với lãnh đạo mới của Nhà Trắng.
- PCA sẽ đưa ra phán quyết thế nào? 
- Tòa án có thể đưa ra phán quyết có lợi cho Philippines về hiện trạng các thực thể mà Trung Quốc đang chiếm giữ, cho thấy một số bị chìm khi thủy triều lên và một số khác là đá. Có thể PCA sẽ đưa ra quyết định nước đôi và do đó dẫn tới nhiều vấn đề cần được giải quyết. Điều này có thể mở ra cánh cửa khôi phục thảo luận giữa Bắc Kinh và Manila.
Tổng thống mới đắc cử của Philipines Rodrigo Duterte đã tuyên bố rằng ông sẽ bảo vệ chủ quyền của nước này nhưng cũng tìm cách cải thiện quan hệ kinh tế với Trung Quốc. Trung Quốc vẫn sẽ bác bỏ quyết định của PCA nhưng có thể điều hòa lại cách hành xử để hợp tác với tân tổng thống. Ông Duterte không ủng hộ Mỹ như ông Aquino và Trung Quốc sẽ muốn khai thác điều này.
- Ông đánh giá thế nào về việc Trung Quốc tuyên bố lôi kéo được ba nước trong ASEAN?
Bắc Kinh cho rằng họ đã đạt đồng thuận với Lào, Campuchia và Brunei về vấn đề Biển Đông nhưng dường như Trung Quốc đã bóp méo những gì các nước đồng thuận. Người phát ngôn của Vientian và Phnom Penh đều bác bỏ việc nhất trí với những gì truyền thông Trung Quốc đưa ra.
Với vai trò chủ tịch ASEAN năm nay, Lào sẽ duy trì được sự thống nhất của khối về Biển Đông vì đã đưa ra phát biểu nhiều lần trong năm ngoái. Nhưng Lào có thể không tiên phong thực hiện điều này. Vấn đề thực sự ở đây là liệu ASEAN có tạo được sự đồng thuận về việc phản ứng thế nào nếu Trung Quốc bác bỏ quyết định của PCA.

Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2016

Đánh bom Brussels, IS có thể đang hoảng loạn

Những vụ đánh bom khủng bố của IS ở châu Âu đều được tiến hành khi nhóm này rơi vào tình cảnh khó khăn nhất tại Iraq và Syria.

danh-bom-brussels-is-co-the-dang-hoang-loan
Bên trong sảnh sân bay Brussels ngay sau vụ đánh bom khủng bố. Ảnh: AP
Những ngày này, không khí đau thương đang bao trùm thủ đô Brussels của nước Bỉ, trái tim của châu Âu, khi những vụ đánh bom kinh hoàng hôm 22/3 cướp đi sinh mạng của ít nhất 31 người và khiến gần 270 người bị thương, theo Reuters.
Karen J. Greenberg, giám đốc Trung tâm An ninh Quốc gia tại trường Đại học Luật Fordham, New York, Mỹ, cho rằng con số thương vong này là một bi kịch không thể chấp nhận được của thế giới văn minh trước bạo lực đẫm máu, nhưng phương Tây cần phải nhìn nhận một thực tế rằng, đó có thể là cái giá phải trả để có thể giành chiến thắng trong cuộc chiến chống lại phiến quân Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS). Những vụ đánh bom Brussels của IS chỉ thể hiện một điều rằng tổ chức khủng bố này đang trong cơn tuyệt vọng chứ không hề mạnh lên.
Gần đây, IS đã hứng chịu một loạt đòn đánh trời giáng vào uy tín và quyền lực của tổ chức khủng bố bị coi là nguy hiểm nhất thế giới này. Lãnh thổ do IS kiểm soát ở Iraq và Syria – nơi phiến quân "xưng hùng xưng bá" để thu hút chiến binh nước ngoài – đang dần bị thu hẹp lại trong suốt 15 tháng qua, và tốc độ đánh mất lãnh thổ đang ngày càng tăng lên. Kể từ tháng 1/2015, IS đã mất khoảng 22% lãnh thổ ở Iraq và Syria, trong đó có 8% bị mất trong những tháng đầu năm 2016.
Tháng trước, hàng nghìn trang tài liệu mật được cho là của IS chứa đựng tới 22.000 danh tính các chiến binh tham gia tổ chức này bị rò rỉ trên truyền thông châu Âu. Số tài liệu chứa đựng những thông tin nhạy cảm nhất về tên tuổi, nhóm máu, trình độ, kỹ năng của các chiến binh này được cho là một "mỏ vàng tình báo" giúp Mỹ và phương Tây có thể nghiên cứu cách thức đối phó hiệu quả với phiến quân.
Chỉ 4 ngày trước khi vụ khủng bố Brussels diễn ra, cảnh sát Bỉ đã giăng một mẻ lưới lớn, tóm gọn Salah Abdeslam, nghi phạm chính còn sống sau vụ thảm sát Paris, kẻ đã lẩn trốn suốt nhiều tháng qua tại một xóm liều ở thủ đô nước Bỉ.
Nhà chức trách Bỉ thông báo rằng Abdeslam bước đầu đã hợp tác với cơ quan điều tra, và rất có thể anh ta sẽ cung cấp những thông tin quý giá về mạng lưới, âm mưu và nhiều khả năng là những cái tên của những kẻ khủng bố đang náu mình trong lòng nước Bỉ, sẵn sàng đe dọa an ninh của cả châu Âu.
Sự cộng hưởng của các sự kiện trên, đặc biệt là sau vụ bắt giữ Abdeslam, kẻ có thể biết rất nhiều về mạng lưới khủng bố đang rình rập chờ thời cơ trong lòng nước Bỉ, có thể là "giọt nước tràn ly" đẩy nhóm phiến quân ở Brussels vào tình trạng cùng quẫn, hoảng loạn.
Khi khám nhà Ibrahim el-Bakraoui, nghi phạm chết trong vụ đánh bom tự sát ở sân bay Brussels, cảnh sát Bỉ phát hiện một thông điệp được lưu trữ trong máy tính của tên này. Trong thông điệp đó, Bakraoui nói rằng anh ta đang cảm nhận được sức ép ngày càng lớn. Anh ta cho rằng mình đang "vội vã, không còn biết phải làm gì, và bị săn lùng khắp mọi nơi, không còn cảm thấy an toàn".
Dù nhóm này đã lên kế hoạch khủng bố, tập hợp và chế tạo bom, lựa chọn người đánh bom tự sát, nhưng có vẻ như vụ tấn công của chúng được thực hiện trong tâm thế vội vàng. Người tài xế taxi Bỉ chở ba nghi phạm đến sân bay kể rằng chúng đã phải bỏ lại chiếc túi chứa nhiều chất nổ nhất, vì không để vừa cốp xe, và rất có thể nhiều sinh mạng đã được cứu nhờ điều đó.
danh-bom-brussels-is-co-the-dang-hoang-loan-1
Hình ảnh ba nghi phạm đánh bom Brussels được cảnh sát Bỉ công bố. Ảnh:Reuters
Tại sân bay, một quả bom không phát nổ như dự kiến, và có vẻ như tên đánh bom đã hoảng loạn và tháo chạy khỏi hiện trường, một quan chức Bỉ cho biết. Những điều này cho thấy nhóm phiến quân IS náu mình tại Brussels có thể đã ra tay trong tình thế bị dồn vào bước đường cùng.
Cơn hoảng loạn
Theo Greenberg, ba vụ đánh bom ở Brussels của IS được thực hiện rất giống với những thủ đoạn trong "sách giáo khoa khủng bố" mà phiến quân al-Qaeda từng áp dụng. Mục tiêu của chúng luôn là những địa danh nổi tiếng quốc tế, nơi tập trung nhiều dân thường và các tổ chức quốc tế như NATO hay Ủy ban châu Âu. Thủ đoạn của chúng là huy động nhiều kẻ đánh bom tự sát, sử dụng thuốc nổ tự chế và thực hiện các vụ đánh bom có phối hợp để gây ra thương vong cao nhất.
Các vụ tấn công vào hệ thống giao thông công cộng của Brussels gồm sân bay và tàu điện ngầm gợi nhớ lại những vụ đánh bom xe bus và tàu điện ở London năm 2005 và vụ khủng bố nhà ga Madrid năm 2004, khiến hàng trăm người thiệt mạng.
Tuy nhiên, Greenberg chỉ ra rằng có sự khác biệt rất lớn giữa những vụ tấn công trước đây của al-Qaeda và các vụ đánh bom mới đây của IS ở Brussels. Trong vụ khủng bố 11/9 ở Mỹ cũng như các vụ đánh bom ở Madrid hay London, phiến quân al-Qaeda đang trên đà trỗi dậy, sử dụng khả năng hủy diệt của mình để làm chấn động thế giới.
Trước vụ 11/9, Osama bin Laden đã nhiều lần tìm cách gây chú ý với Mỹ nhưng không thành công. Có thể kể đến các cuộc đánh bom vào đại sứ quán Mỹ ở Kenya và Tanzania vào năm 1998, vụ đánh bom tàu tên lửa dẫn đường USS Cole vào năm 2000, và vụ tấn công căn cứ không quân Mỹ ở Khobar Towers, Arab Saudi năm 1996, tất cả đều nhanh chóng rơi vào quên lãng. Vụ tấn công và tòa nhà Trung tâm Thương mại Thế giới ngày 11/9/2001 đã thay đổi tất cả.
Trong khi đó, những vụ tấn công đẫm máu của IS thường được tiến hành khi nhóm này rơi vào tình thế khó khăn nhất. Trước khi vụ thảm sát Paris diễn ra, Tổng thống Mỹ Barack Obama tuyên bố phương Tây đã thu được những thành công đáng kể trong cuộc chiến chống IS.
Theo các chuyên gia phân tích, mục đích của các vụ tấn công khủng bố là nhằm gieo rắc nỗi sợ hãi cho đối phương, thể hiện sự tự tin và sức mạnh của các tổ chức khủng bố. Thế nhưng IS có vẻ như đã không làm được điều đó bằng những vụ tấn công mới nhất. Mỹ và các nước châu Âu vẫn thể hiện quyết tâm chống khủng bố đến cùng, trong khi các vụ đánh bom, xả súng không giúp IS cứu vãn được tình hình ngày càng tồi tệ ở Iraq và Syria.
Ông Greenberg cho rằng trong cơn khốn quẫn hiện nay, khi lãnh thổ ở Trung Đông ngày càng bị thu hẹp, IS sẽ rơi vào tình thế hoảng loạn, buộc phải điều thêm các thành viên trở về châu Âu như một phương thức khả thi hơn để phô trương thanh thế của chúng, và đó cũng là cơ hội để các nước châu Âu tấn công mạnh mẽ hơn nữa vào các mạng lưới khủng bố.
danh-bom-brussels-is-co-the-dang-hoang-loan-2
IS đã đánh mất 22% lãnh thổ trong năm qua. Đồ họa: IHS Jane's
Để làm được điều đó, chuyên gia này nhấn mạnh rằng lực lượng hành pháp ở châu Âu cần phải thực thi chính xác nhiệm vụ của mình, đó là vạch mặt những kẻ từ Syria xâm nhập vào châu Âu, xác định các thành viên khác trong mạng lưới của chúng, truy bắt vũ khí và các phần tử chịu trách nhiệm cho những vụ đánh bom.
Giới truyền thông, dư luận và các quan chức châu Âu cũng phải góp sức vào cuộc chiến bằng cách có những phản ứng thích hợp để cho IS thấy rằng họ không sợ hãi cơn hoảng loạn của chúng, Greenberg nói.
Khi bị dồn vào chân tường, IS có thể gieo rắc thêm bạo lực trước khi thòng lọng siết chặt vào cổ chúng, nhưng phương Tây cần phải quyết tâm duy trì áp lực lên nhóm phiến quân cả trong và ngoài nước. "Nguy cơ từ chủ nghĩa khủng bố đòi hỏi sự cảnh giác thường trực trong cuộc sống hàng ngày, cũng như ý chí lâu dài, không hơn không kém", ông Greenberg nhấn mạnh.

Loại ma túy biến chiến binh IS thành khủng bố máu lạnh

Biệt dược Captagon giúp những kẻ đánh bom tự sát trở nên bình thản và vô cảm, ngay cả khi chuẩn bị kích nổ quả bom giết chết hàng chục người vô tội.
loai-ma-tuy-bien-chien-binh-is-thanh-khung-bo-mau-lanh
Ba nghi phạm bình thản đẩy xe chở khối thuốc nổ vào sảnh sân bay Brussels. Ảnh:Reuters
Khi nhà chức trách Bỉ công bố hình ảnh ba nghi phạm khủng bố tiến vào sân bay ở thủ đô Brussels để thực hiện những vụ đánh bom tự sát kinh hoàng hôm 22/3, người ta rất dễ nhận thấy điểm chung của ba tên này là gương mặt bình thản đến lạ lùng, dù chỉ vài phút nữa chúng sẽ kích nổ khối thuốc nổ cực lớn mang theo, cướp đi sinh mạng của chính chúng và hàng chục người vô tội.
"Bình tĩnh, vô cảm" là những từ mà các nhân chứng sống sót sau vụ thảm sát kinh hoàng ở Paris hồi năm ngoái mô tả về những tay súng đánh bom tự sát của IS. Bên trong nhà hát Bataclan, dù bị cảnh sát đặc nhiệm Pháp vây kín, những tên này vẫn không hề tỏ ra sợ hãi, sẵn sàng kích nổ bom gắn trên người khi lực lượng đột kích xông vào. Theo các nhân chứng, khi bấm nút kích nổ quả bom, gương mặt của những kẻ khủng bố không hề biến sắc.
Báo chí Pháp cho rằng những kẻ khủng bố sở dĩ trở nên vô hồn, trơ lỳ trước cái chết như vậy là bởi chúng đã sử dụng một loại ma túy gần như chỉ lưu hành ở Trung Đông và rất được phiến quân Nhà nước Hồi giáo (IS) ưa chuộng nhằm biến các tay súng của mình thành những kẻ sát nhân máu lạnh.
Đó là Captagon, hay còn gọi là "thuốc jihad", một loại ma túy amphetamine tổng hợp có thể giúp những kẻ sử dụng không còn cảm thấy đau đớn, sợ hãi hay đói khát, khiến chúng luôn tỉnh táo, điềm tĩnh và cảnh giác cao độ trong thời gian dài. Với những đặc điểm đó, Captagon được IS sử dụng ngày càng phổ biến trong những vụ đánh bom tự sát ở Syria, Iraq, và sau này là Pháp, Bỉ.
Khi cảnh sát Pháp đột kích một phòng khách sạn ở Alfortville, đông nam thủ đô Paris, sau vụ khủng bố kinh hoàng, họ phát hiện nhiều xy lanh, kim tiêm và dây truyền nhựa. Đây là một trong hai căn phòng mà Salah Abdeslam, nghi phạm chính của vụ khủng bố vừa bị cảnh sát Bỉ bắt giữ, đã thuê để cho cả nhóm trú ngụ trong vài ngày trước khi thực hiện vụ tấn công.
Nhiều tờ báo của Pháp cho rằng có nhiều bằng chứng cho thấy những kẻ tấn công Paris đã sử dụng Captagon để lên dây cót tinh thần cho mình vài giờ trước khi tỏa ra nhiều địa điểm ở thủ đô nước Pháp để thực hiện những vụ xả súng, đánh bom tự sát.
Các nhân chứng khẳng định những kẻ tấn công này có vẻ ngoài như "xác sống", một biểu hiện của tình trạng phê ma túy. "Tôi thấy một kẻ cầm súng có phong thái rất điềm tĩnh, bình thản, với khuôn mặt gần như vô cảm, tiến tới quầy bar. Hắn ta bắn vãi đạn vào trong đó, như thể người ta đang dùng máy để cắt cỏ", một nhân chứng kể với đài truyền hình M6 của Pháp.
Biến tướng
Theo các chuyên gia y tế, Captagon được sản xuất ở các nước phương Tây từ thập niên 1960 để điều trị các triệu chứng như trầm cảm hoặc tăng động. Tuy nhiên, sau một thời gian, hầu hết các nước đều cấm sử dụng loại thuốc này vì bản chất gây nghiện của nó. Thuốc này có chứa chất fenethylline, khi vào cơ thể được gan phân giải thành amphetamine và theophylline, theo các mạch máu lên não và đóng vai trò như chất kích thích.
Giờ đây, loại biệt dược nguy hiểm này tái xuất ở Trung Đông, đặc biệt là Syria, nơi việc sản xuất và sử dụng Captagon nở rộ kể từ khi đất nước này chìm vào cuộc nội chiến đẫm máu. Các chuyên gia về ma túy, thương nhân và nhà hoạt động địa phương cho hay lượng thuốc Captagon sản xuất ở Syria đã tăng đột biến từ năm 2013, vượt qua các nước khác trong khu vực như Lebanon, theo Reuters.
loai-ma-tuy-bien-chien-binh-is-thanh-khung-bo-mau-lanh-1
Captagon được sản xuất và sử dụng ngày càng rộng rãi trên chiến trường Syria. Ảnh: Reuters
Năm ngoái, quân đội chính phủ Syria và phe nổi dậy đều tố cáo lẫn nhau sử dụng Captagon để giúp các chiến binh tham chiến trong thời gian dài mà không thấy mệt mỏi, buồn ngủ, trong khi các bệnh viện cho biết dân thường Syria cũng sử dụng nhiều hơn loại thuốc được bán với giá từ 5 đến 20 USD một vỉ này.
Các nguồn tin cho hay hoạt động sản xuất thuốc Captagon đã tạo ra nguồn lợi nhuận hàng trăm triệu USD ở Syria mỗi năm, và phần lớn số tiền này được dùng để mua vũ khí. Khabib Ammar, một nhà hoạt động ở Damascus, cho biết những tay súng Syria nổi dậy đã dùng số tiền kiếm được từ hoạt động buôn bán Captagon để mua những khẩu súng mới.
Phòng Ma túy và Tội phạm Liên Hợp Quốc (UNODC) cho hay từ lâu Syria đã trở thành một đầu mối quan trọng trong hoạt động sản xuất, buôn bán Captagon ở Trung Đông. "Vụ bắt giữ 4,2 triệu viên Captagon được tuồn từ Syria sang Thổ Nhĩ Kỳ hồi tháng 4/2013 là minh chứng cho hoạt động này", báo cáo của UNODC cho hay.
Không còn đau đớn
Đại tá Ghassan Chamseddine, chỉ huy đơn vị phòng chống ma túy của Lebanon, cho biết thuốc Captagon thường được giấu trong xe tải từ Syria đi qua các cửa khẩu của nước này, sau đó được phân phối đến các nước khác ở Vùng Vịnh. Theo ông Chamseddine, phần lớn số Captagon này có nguồn gốc từ thung lũng Bekaa, nằm gần biên giới Syria.
Truyền hình Syria khi đưa tin về tình hình chiến sự thường cho biết quân đội chính phủ tịch thu được số lượng lớn thuốc Captagon sau khi tấn công căn cứ của quân nổi dậy.
Một cảnh sát phòng chống ma túy ở thành phố Homs cho biết anh đã tận mắt chứng kiến tác động của Captagon đối với những tay súng đối lập bị bắt. "Khi bị tra khảo, đánh đập, họ không biết đau đớn là gì. Nhiều người thậm chí còn cười lớn khi bị chúng tôi đấm mạnh. Thường chúng tôi phải chờ khoảng 48 tiếng để Captagon hết tác dụng rồi mới tra khảo, lúc đó mọi việc dễ dàng hơn".
Viện Chống Khủng bố Quốc tế Israel (IICT) cho biết việc sử dụng Captagon kết hợp với tư tưởng tôn giáo cực đoan có thể lý giải cho những hành động man rợ tột cùng của các phiến quân IS thực hiện những vụ tấn công khủng bố.
loai-ma-tuy-bien-chien-binh-is-thanh-khung-bo-mau-lanh-2
Captagon có thể giúp các chiến binh không còn cảm thấy đau đớn, giữ tỉnh táo và cảnh giác trong thời gian dài. Ảnh minh họa: AP
Theo Tạp chí Cảnh sát Mỹ chuyên đăng tải các bài viết về chiến thuật chống tội phạm, các nghi phạm đánh bom tự sát thường trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, từ xác định mục tiêu, chuẩn bị vũ khí, lựa chọn kẻ đánh bom, sau đó mới di chuyển đến mục tiêu và kích nổ quả bom. Việc nghi phạm sử dụng các loại ma túy để che giấu cảm xúc sợ hãi, lo lắng khiến cho việc ngăn chặn khủng bố ở những giai đoạn cuối cùng ngày càng trở nên khó khăn.
Điều này có thể đã được minh chứng trong vụ khủng bố ở sân bay Brussels. Ba kẻ khủng bố mang theo những khối thuốc nổ rất lớn giấu trong hành lý bước vào sân bay đông đúc, nhưng sự bình thản gần như tuyệt đối của chúng có thể là một trong những yếu tố giúp chúng qua mặt được các nhân viên an ninh giám sát và cả người dân, dù nước Bỉ đang được đặt trong tình trạng báo động cao về nguy cơ khủng bố.
 
Blogger Templates