Pages

Subscribe:

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

Vì sao châu Âu chia rẽ trong cuộc khủng hoảng di cư

Kinh tế, văn hóa và tôn giáo là những bài toán hóc búa khiến các nước châu Âu bất đồng sâu sắc trong khủng hoảng di cư.
3-2161-1441613656.jpg
Những người tị nạn bật khóc bên bờ biển sau khi đặt chân đến châu Âu. Ảnh: CNN
Nhiều người châu Âu đã bày tỏ sự cảm thông đối với thảm cảnh của hàng trăm nghìn người di cư. Cuối tuần qua, trên các sân bóng thuộc giải Bundesliga xuất hiện dòng chữ: "Chào mừng người tị nạn". Đội bóng Bayern Munich tuyên bố họ đang lên kế hoạch lập một trại đào tạo cho trẻ em tị nạn, nơi các em sẽ được tập đá bóng, học tiếng Đức và được ăn ngon mỗi ngày. Hai ngày cuối tuần qua, Đức tiếp nhận 17.000 người nhập cư.
Ở Anh, gần 300.000 người đã ký tên vào bản kiến nghị yêu cầu chính phủ chấp nhận thêm người tị nạn và tăng sự hỗ trợ cho người nhập cư. Tại Barcelona, sau lời kêu gọi của thị trưởng Colau, hàng trăm người dân đã nhường phòng trong căn hộ của mình cho những người được nhập cư.
Thủ tướng Đức Angela Merkel tuyên bố rằng đây là vấn đề liên quan đến "những giá trị con người phổ quát", mà nếu như những giá trị này bị phá vỡ "đây sẽ không phải là một châu Âu mà chúng ta mong muốn".
Thụy Điển là một trong vài quốc gia EU hiếm hoi có chung quan điểm với Đức. Nếu xét theo quy mô dân số, Thụy Điển đã tiếp nhận tỉ lệ người tị nạn cao nhất, với hơn 600.000 người nhập cư được phép vào nước này trong năm 2014, theo số liệu thống kê của Eurostat.
Đấu khẩu Đức - Hungary
Tuy nhiên nhiều nhà lãnh đạo các nước EU, trong đó có Thủ tướng Hungary Viktor Orban, cho rằng chính sách nhập cư và hệ thống phúc lợi hậu hĩnh của Đức chính là nguyên nhân khiến dòng người tị nạn đổ về châu Âu ngày một nhiều. Ông Orban thậm chí còn tuyên bố thẳng thừng rằng cuộc khủng hoảng nhập cư hiện nay của châu Âu là "vấn đề của Đức".
Theo luật nhập cư của EU, những người tới nhập cư phải được đăng ký và phân loại ở quốc gia đầu tiên tiếp nhận họ. Sau khi được đăng ký, họ sẽ được kiểm tra để xác minh xem có đủ tư cách xin tị nạn hay không, và nếu không được cấp quy chế tị nạn, họ sẽ bị trục xuất về nước ngay lập tức. Bởi vậy, Hungary cho rằng Đức đang "phá luật" khi ồ ạt tiếp nhận những người nhập cư chưa qua đăng ký và phân loại, trong khi Budapest phải dựng lên hệ thống hàng rào biên giới để ngăn chặn dòng người tị nạn tiến sâu hơn vào châu Âu.
"Người nhập cư bất hợp pháp không được quyền lựa chọn thích đi đâu thì đi, họ phải tuân thủ các quy trình và quy định mà mọi quốc gia EU phải tuân theo", ông Kovacs nhấn mạnh.
2-9479-1441613656.jpg
Đoàn người nhập cư tìm cách lên một con tàu ở Áo. Ảnh: CNN
Nếu quan điểm này ngày càng trở nên phổ biến hơn ở Tây Âu, nơi các đảng đối lập cánh hữu đang gây sức ép để chính phủ cứng rắn hơn về vấn đề nhập cư, Đức sẽ gặp khó khăn hơn rất nhiều trong việc phân bổ người nhập cư đồng đều trên khắp khu vực. Và lúc đó Đức chỉ còn trơ trọi một mình trước khoảng một triệu người di cư trong năm nay, những người một khi đã đặt chân tới châu Âu là không hề có ý quay trở lại, CNN nhận định.
Một cuộc thăm dò ý kiến hồi tuần trước cho thấy đa số người Đức ủng hộ việc giúp đỡ những người tị nạn, và nhiều người dân nước này đã làm việc đó một cách tự phát. Nhưng các chuyên gia lo ngại rằng một khi cơn xúc động trước thảm cảnh của người tị nạn qua đi, người Đức sẽ phải đối mặt với những hậu quả của việc tiếp nhận quá nhiều người nhập cư, lúc đó tình hình sẽ trở nên tồi tệ hơn.
Nguyên nhân chính
Các quốc gia Đông Âu không muốn nhận người di cư bởi điều đó phần nào tác động tới ngân sách của họ. Phần lớn những quốc gia phản đối tiếp nhận người nhập cư là những nước đang gặp khó khăn về kinh tế và xã hội. Hy Lạp đang chìm trong cuộc khủng hoảng nợ công và những bất ổn chính trị tiềm ẩn, khiến họ gần như không có khả năng về kinh tế và nguồn lực để tiếp nhận làn sóng người nhập cư. Ba Lan, Hungary, Tây Ban Nha... cũng gặp nhiều khó khăn trong việc đảm bảo phúc lợi xã hội, tạo công ăn việc làm cho người dân. Việc tiếp nhận một số lượng lớn người nhập cư sẽ gây ra gánh nặng rất lớn cho chi tiêu công của chính phủ.
Một lo ngại rất lớn nữa là xung đột về văn hóa và tôn giáo. Phần lớn những người tị nạn là người Hồi giáo đến từ Syria và châu Phi, trong khi người dân và chính phủ các nước châu Âu vẫn chưa sẵn sàng chấp nhận một cộng đồng Hồi giáo lớn như vậy ngay trong lòng xã hội của mình.
Chính phủ Slovakia tuyên bố họ chỉ chấp nhận người tị nạn Công giáo. Thủ tướng Hungary Orban tuyên bố ở Brussels hôm thứ năm tuần trước: "Tất cả các nước đều có quyền quyết định có muốn sống với một cộng đồng Hồi giáo lớn trong nước mình hay không. Nếu họ muốn, họ có thể. Nhưng chúng tôi không muốn, và chúng tôi có quyền quyết định không muốn có lượng lớn người Hồi giáo trong nước mình".
An ninh là một lý do quan trọng khiến các nước không muốn tiếp nhận người Hồi giáo tị nạn, bởi họ lo sợ rằng, các tổ chức khủng bố ở Trung Đông có thể cài cắm các phần tử cực đoan vào dòng người, và chúng có thể phát động những cuộc tấn công khủng bố ngay trong lòng châu Âu.
"Đây không còn là một cuộc khủng hoảng tị nạn nữa, mà đây là một hijrah", chuyên gia phân tích Robert Spencer viết trên tạp chí Front Page hôm 4/9. "Hijrah" là một học thuyết Hồi giáo về di cư, và là một dạng "thánh chiến ngầm".
"Ra nước ngoài dưới ánh sáng của đấng Allah là di chuyển tới một vùng đất mới để mang đạo Hồi tới đó, và trong đạo Hồi, đây là hành động rất được ca tụng", ông Spencer viết.
Hồi đầu năm, tờ Express của Anh dẫn lời một chiến binh IS cho biết tổ chức khủng bố này đã tìm cách lợi dụng cuộc khủng hoảng nhập cư hiện nay để xây dựng một lực lượng chiến binh trong lòng châu Âu.
"Hãy đợi mà xem, giấc mơ của chúng tôi là không chỉ có một vương quốc Hồi giáo ở Syria, mà trên toàn thế giới, và chúng tôi sẽ sớm đạt được. Họ lên đường như những người tị nạn, và những kẻ tới châu Âu đều đã sẵn sàng", chiến binh này tiết lộ. Theo đó, khoảng 4.000 chiến binh IS đã sẵn sàng xâm nhập vào khắp châu Âu dưới vỏ bọc là những người tị nạn.
4-8920-1441613656.jpg
Cảnh sát Pháp dùng dùi cui ngăn chặn người nhập cư tiến vào đường hầm nối với Anh. Ảnh: CNN
Giải pháp hạn ngạch
Hồi tuần trước, Thủ tướng Đức Angela Merkel và Tổng thống Pháp Francois Hollande đã kêu gọi áp dụng chính sách "hạn ngạch" mới để phân bổ người tị nạn một cách đồng đều trên 28 quốc gia thành viên EU. Các quan chức ngoại giao EU nói rằng kế hoạch hạn ngạch này có thể giúp phân bổ ít nhất 160.000 người nhập cư trên toàn khối, trong đó các quốc gia lớn hơn, giàu có hơn sẽ tiếp nhận nhiều người nhập cư hơn.
Thế nhưng sáng kiến này vấp phải sự phản đối quyết liệt của các quốc gia thành viên EU ở Trung và Đông Âu, từ lâu đã bày tỏ thái độ cứng rắn trong chính sách nhập cư.
Phát biểu khi đứng cạnh bà Merkel trong một hội nghị tuần trước, Thủ tướng Tây Ban Nha Mariano Rajoy cho rằng "một số nước không muốn có người tị nạn. Các bạn không thể ép buộc được họ", theo CNN. Cho đến nay, Tây Ban Nha mới chỉ đồng ý tiếp nhận chưa đến 3.000 người tị nạn.
Một số chính trị gia cho rằng phần lớn những người di cư tới châu Âu không phải là người tị nạn đang chạy trốn nguy hiểm, mà là những người đang muốn đổi đời về kinh tế. "Quyết định của chúng ta đầu tiên phải có hiệu quả trong việc giúp đỡ những người thực sự cần, chứ không phải cho những kẻ muốn có cuộc sống tốt đẹp hơn ở châu Âu", Thủ tướng Ba Lan Ewa Kopecz tuần trước tuyên bố.
Những lãnh đạo này lo ngại rằng, một khi các nước châu Âu tiếp nhận người di cư quá dễ dàng, dòng người sẽ lại ùn ùn đổ về, khiến các quốc gia thành viên EU rơi vào tình trạng quá tải người nhập cư.
Trước sức ép của dư luận, một số lãnh đạo châu Âu tỏ sự thay đổi thái độ về chính sách với người xin nhập cư. Thủ tướng Ba Lan Kopacz đã đề cập đến "nghĩa vụ đạo đức trong việc chấp nhận người tị nạn" vào cuối tuần trước, mặc dù ông vẫn phản đối áp hạn ngạch nhập cư bắt buộc. Thủ tướng Anh dè dặt tuyên bố sẽ chấp nhận hàng chục nghìn người nhập cư trong vòng 5 năm tới. Thủ tướng Phần Lan Juha Sipila tuyên bố rằng ông sẽ nhường nhà của mình cho người tị nạn, khởi đầu phong trào hành động cụ thể của các chính trị gia đưa ra hành động cá nhân để giúp đỡ người di cư, tị nạn.
Tuy nhiên, những hành động cá nhân không thể đủ để cải thiện tình hình. Không một cá nhân hay quốc gia riêng lẻ nào có thể giải quyết được khủng hoảng di cư này nếu thiếu sự nhất trí thực hiện các luật chung của châu Âu về việc tiếp nhận và tạo công ăn việc làm cho người tị nạn, theo Deutsche Welle.

Cắt giảm quân, Trung Quốc có thể dồn sức hiện đại hóa

Tuyên bố cắt giảm 300.000 quân của Trung Quốc có thể vừa là động thái xoa dịu, vừa là bằng chứng cho thấy nước này đang tích cực hiện đại hóa lực lượng.
AFP-Getty-509774077_1441354665.jpg
Quân đội Trung Quốc. Ảnh: AFP
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hôm 3/9 bất ngờ tuyên bố cắt giảm 300.000 binh sĩ trong lễ duyệt binh kỷ niệm 70 năm kết thúc Thế chiến II ở châu Á.
Xoa dịu
Khi phát biểu trước quảng trường Thiên An Môn, ông Tập khẳng định việc cắt giảm quân số là một cử chỉ hòa bình, tại thời điểm các nước láng giềng ngày càng lo lắng về yêu sách chủ quyền và sức mạnh quân sự của Bắc Kinh.
"Việc công bố cắt giảm nhằm 'bù' cho sự phô diễn lực lượng. Nó giúp làm dịu sự phô diễn sức mạnh", Bloomberg dẫn lời Zhang Baohui, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Á Thái Bình Dương tại Đại học Lingnan ở Hong Kong, nói.
"Đây có thể được xem như là một bất ngờ đáng mừng, bởi ông ấy rõ ràng đã tuyên bố đó là một cử chỉ thiện chí và hòa bình", ông Rory Medcalf, hiệu trưởng Đại học An ninh Quốc gia, thuộc Đại học Quốc gia Australia tại Canberra, nói.
Tuy nhiên, quyết định cắt giảm quân của Bắc Kinh ít có khả năng khiến các quốc gia trong khu vực bớt lo lắng về sức mạnh quân sự ngày một lớn của Trung Quốc. Bởi động thái này là một phần trong chương trình hiện đại hóa, nhằm phân bổ lại nguồn lực của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA).
"Việc cắt giảm sẽ không làm tổn thương khả năng chiến đấu của PLA. Đó là một phần trong gói cải cách để hợp lý hóa PLA và gia tăng khả năng chiến đấu cho lực lượng này", ông Zhang nhận xét.
Hiện đại hóa
Theo Reuters, quân số hiện tại của Trung Quốc là 2,3 triệu người. Đây sẽ là đợt cắt giảm nhân sự quân đội lớn nhất gần 2 thập kỷ qua và dường như cho thấy quyết tâm của ông Tập trong việc theo đuổi kế hoạch tái cấu trúc quân đội, bất chấp kinh tế tăng trưởng chậm lại. 
"Trung Quốc thực sự có lẽ cũng không cần một đội quân lớn như họ đang có", ông Medcalf nói. "Nhân sự chiếm chi phí khổng lồ trong ngân sách quốc phòng, lương trong quân đội Trung Quốc đã tăng mạnh trong những năm qua", ông nói. "Do đó, có lý do hợp lý để cắt giảm quân số mà không làm ảnh hưởng tới hiệu quả. Việc này sẽ giúp giải phóng một phần ngân sách để giúp tái cân bằng PLA theo hướng nâng cao năng lực".
Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho biết trọng tâm việc cắt giảm sẽ là giảm các thiết bị lỗi thời, đơn giản hóa vai trò hành chính và phi chiến đấu, điều chỉnh và hoàn thiện cơ cấu quân sự. Quá trình sẽ cơ bản hoàn thành vào cuối năm 2017. Bộ này khẳng định chi tiêu quốc phòng sẽ không giảm xuống vì Trung Quốc vẫn cần nâng cấp thiết bị cũ và sẽ cần phải chi tiền để hỗ trợ những người phải xuất ngũ trong quá trình này.
Theo NYTimes, ông Tập đang thể hiện quyết tâm đẩy mạnh hiện đại hóa quân đội. Chi tiêu quốc phòng lâu nay vẫn dành nhiều cho lục quân sẽ được chuyển sang các lực lượng hải quân và không quân hiện đại hơn. Đây là những lực lượng cần ít lính hơn nhưng phải được huấn luyện bài bản hơn.
"Việc cắt giảm là bằng chứng cho thấy PLA đang tiến hành hiện đại hóa. Khi các lực lượng vũ trang kết nối tốt hơn và áp dụng các loại vũ khí mới, nhiều nhiệm vụ sẽ được tiến hành bằng máy móc tự động", James Hardy, biên tập viên châu Á Thái Bình Dương của IHS Jane nói. 
Ông Taylor Fravel, chuyên gia tại Viện công nghệ Massachusetts và là nhà nghiên cứu quân đội Trung Quốc, cho rằng động thái mới này cho thấy kế hoạch tái cơ cấu quân đội của ông Tập đang diễn ra, dù chính quyền ít công khai chi tiết việc tiến hành kể từ khi những kế hoạch đó được tuyên bố năm 2013.
"Ông Tập sẽ không công khai quy mô đợt cắt giảm nếu chưa có kế hoạch triển khai cụ thể. Do vậy, tuyên bố này cho thấy nước này chắc chắn đang triển khai cải cách", ông Fravel nhận định. "Lục quân có khả năng chịu nhiều ảnh hưởng nhất từ đợt cắt giảm. Tuy nhiên, những lần cắt giảm trước thường nhằm giảm bớt các tầng nấc chỉ huy và tham liêu trong PLA".
Bonnie S. Glaser, cố vấn về châu Á của Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược (CSIS), cho rằng việc cắt giảm nhân sự là một phần trong nỗ lực giúp quân đội hiệu quả và chuyên nghiệp hơn. "Trong thập kỷ qua, quân đội Trung Quốc đã tiến xa hơn bất kỳ quân đội nào khác, nhưng không ai hiểu rõ về những thiếu sót của PLA hơn chính Trung Quốc", bà Glaser khẳng định.
Theo chuyên gia này, PLA vẫn phải đổi mặt với những thách thức lớn, bao gồm nâng cấp vũ khí và huấn luyện binh sĩ. "Không ai biết làm thế nào quân đội Trung Quốc có thể sánh được với những gì Mỹ đang có. Nhưng họ rõ ràng đang thu hẹp khoảng cách", chuyên gia này nhấn mạnh.
Ông Tập không cung cấp chi kế hoạch cắt giảm nhân sự, và không loại trừ khả năng việc này sẽ được thực hiện bằng cách cho giải ngũ thông thường, hoặc giảm số lượng gọi nhập ngũ. Nhưng tại thời điểm tăng trưởng kinh tế đang chậm lại, việc giảm số lượng lính có thể làm gia tăng áp lực lên chính phủ.
Bắc Kinh sẽ chịu áp lực phải sắp xếp việc làm cho các binh sĩ giải ngũ, khi nhiều người có kỹ năng làm việc hạn chế. Trước đây, các sĩ quan và quân nhân giải ngũ thường không mấy vui vẻ với triển vọng về nghề nghiệp và phúc lợi, và từng biểu tình  bên ngoài các cơ quan chính phủ.

Châu Âu bị chỉ trích trong khủng hoảng người di cư

Nhiều quan chức, nhà hoạt động cho rằng cách xử lý của châu Âu trong cuộc khủng hoảng nhập cư là hẹp hòi.
2-1785-1441422690.jpg
Tượng cát thể hiện hình ảnh em bé người Syria bị dạt vào bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ. Ảnh:AFP
Tấm ảnh cậu bé Syria 3 tuổi Aylan nằm úp mặt bất động trên bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ, khi đang cùng bố mẹ và anh trai tìm đường sang châu Âu, dấy lên sự đau xót khắp  thế giới, và châm ngòi những lời chỉ trích đối với chính sách đối với người tị nạn/di cư mà châu Âu đang áp dụng.
Hẹp hòi
Hôm 4/9, các quan chức Liên Hợp Quốc chỉ trích các nước châu Âu về cách phản ứng của họ đối với cuộc khủng hoảng nhập cư đang ngày càng trở nên tồi tệ hơn khắp khu vực, cũng như sự lúng túng của các chính trị gia trong việc tìm giải pháp căn bản cho vấn đề, CNBC đưa tin.
"Vấn đề thực sự ở đây nằm ở các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU), những nước chưa sẵn sàng nhận ra thực tế căn bản là nếu họ không tìm ra giải pháp để mọi người cùng chia sẻ trách nhiệm và thể hiện sự đoàn kết, tình hình sẽ không thể cải thiện được", ông Peter Sutherland, đại diện đặc biệt của tổng thư ký Liên Hợp Quốc về vấn đề di cư quốc tế, nói.
"Nếu ai cũng nghỉ ngơi phía sau biên giới và tuyến phòng thủ của mình, thảm họa sẽ vẫn tiếp diễn và trở nên tồi tệ".
Ông Antonio Guterres, thuộc Cao ủy Liên Hợp Quốc về Người tị nạn, tuyên bố rằng một châu Âu chia rẽ về chính sách nhập cư chỉ có lợi cho bọn buôn người, Reuters cho hay. Ông Guterres kêu gọi EU nỗ lực hơn nữa để giúp đỡ người tị nạn, trong đó có rất nhiều người phải rời bỏ nhà cửa ở các vùng chiến sự để đi tìm cuộc sống tốt đẹp hơn tại châu Âu.
Số người tị nạn cao kỷ lục đã đổ về biên giới châu Âu với hy vọng thoát khỏi những cuộc xung đột đẫm máu ở Trung Đông và Bắc Phi. Cơ quan biên giới châu Âu ghi nhận 340.000 vụ vượt biên bất hợp pháp vào EU chỉ trong vòng 7 tháng đầu năm nay. Hơn 300.000 người đã mạo hiểm mạng sống tìm cách vượt Địa Trung Hải để tới châu Âu, Cơ quan Tị nạn Liên Hợp Quốc cho biết, và hơn 2.500 người đã thiệt mạng hoặc mất tích trên hành trình này.
4-4071-1441422690.jpg
Nhiều người tị nạn đã chết đuối trong hành trình vượt Địa Trung Hải tới châu Âu. Ảnh: CNN
Thế nhưng khi đặt chân được đến châu Âu, họ phải đối mặt với một thực tế phũ phàng rằng có rất ít nơi chào đón họ. Ông Sutherland đã chỉ trích mạnh mẽ các quốc gia EU như Slovakia khi họ thẳng thừng tuyên bố rằng sẽ không tiếp nhận bất cứ người tị nạn phi Công giáo nào.
"Tôi không thể tin được rằng nhiều nước Trung và Đông Âu tuyên bố sẽ không chấp nhận những người tị nạn không theo Công giáo, bởi nó không đúng với những giá trị mà chúng ta đều chia sẻ. Điều đó là không chấp nhận được", ông nhấn mạnh.
Một thành viên EU khác là Hungary cũng bị chỉ trích nặng nề vì xây dựng hệ thống hàng rào dây thép gai cao 4 mét dọc biên giới và phong tỏa nhà ga chính ở thủ đô Budapest, ngăn chặn dòng người tị nạn đặt chân đến phần còn lại của châu Âu.
Các quốc gia châu Âu ven bờ Địa Trung Hải như Italy và Hy Lạp cũng đang chật vật đối phó với dòng người di cư khổng lồ đổ bộ bằng đường biển. Đây là một thử thách đặc biệt khó khăn cho Hy Lạp, đất nước đang phải cố gắng xoay xở với cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị của riêng mình. Theo Cơ quan Tị nạn Liên Hợp Quốc, 2/3 số người tị nạn vượt biển Địa Trung Hải để tới châu Âu trong năm nay đều đổ bộ lên Hy Lạp. Tình hình khó khăn đến mức Bộ trưởng Tài chính Hy Lạp Yanis Varoufakis phải tuyên bố đây là một cuộc "khủng hoảng nhân đạo".
Ông David Miliband, cựu ngoại trưởng Anh và hiện là chủ tịch Ủy ban Cứu nạn Quốc tế, đã coi cách phản ứng của châu Âu đối với cuộc khủng hoảng tị nạn hiện nay là "thiển cận và hẹp hòi", tờ Time đưa tin. Cho đến nay, các lãnh đạo EU vẫn chưa thể thống nhất việc ai sẽ là thành viên chịu gánh nặng lớn nhất trong cuộc khủng hoảng tị nạn này.
"Phần lớn các nước châu Âu đều giả vờ như đây là vấn đề của người khác. Thủ tướng Hungary còn cho rằng vấn đề người nhập cư này là của Đức… Cách xử lý của châu Âu đối với vấn đề này là khá yếu kém, và tôi cho rằng các lãnh đạo EU giờ đây cần phải nỗ lực để bù lại thời gian đã mất", ông Miliband tuyên bố.
3-2852-1441422690.jpg
Người tị nạn đi bộ trên đường cao tốc Hungary để tìm đường tới Áo. Ảnh: BBC
Giải pháp 'muối bỏ bể'
Theo ông Miliband, EU hiện nay cần phải thực hiện chính sách toàn diện hơn với vấn đề người nhập cư, trong đó có ba điểm quan trọng. Thứ nhất, họ phải tìm cách chia sẻ với nhau trong việc tiếp nhận người nhập cư. Thứ hai, EU cần có cách thức đăng ký và phân loại người nhập cư phù hợp hơn, nhằm xác định rõ đâu là người tị nạn chạy trốn chiến tranh, đâu là người nhập cư kinh tế muốn có cuộc sống tốt hơn và không được hưởng quy chế tị nạn. Thứ ba, châu Âu cần tích cực hơn trong việc hỗ trợ các quốc gia xung quanh vùng chiến sự Syria, như Lebanon, Jordan, Thổ Nhĩ Kỳ và Iraq, những nước đang không thể đối phó với làn sóng 4,5 triệu người tị nạn tràn ra khỏi Syria trong vòng 4 năm qua.
Theo Miliband, điểm của châu Âu cho rằng mình đang phải nhận lấy gánh nặng quá lớn trong vấn đề này là không đúng. Ông chỉ ra một thực tế là 86% người tị nạn trên thế giới đang tập trung ở các nước nghèo, các quốc gia đang phát triển, chứ không phải Mỹ hay châu Âu.
Lebanon, quốc gia có 4,5 triệu dân, đang phải tiếp nhận tới 1,6 triệu người tị nạn. Thổ Nhĩ Kỳ là điểm đến của gần 2 triệu người tị nạn. 700.000 người chạy loạn đang tập trung ở Jordan, nước có 6,5 triệu dân. Nói cách khác, chính những quốc gia đang phát triển này mới là những nơi phải hứng chịu cuộc khủng hoảng tị nạn lớn nhất.
Trước sức ép ngày càng lớn từ dư luận, mới đây Áo và Đức tuyên bố sẽ tiếp nhận thêm hàng trăm người tị nạn đang bị mắc kẹt tại nhà ga ở thủ đô Budapest của Hungary, tuy nhiên nỗ lực này chỉ như "muối bỏ bể" so với hàng chục ngàn người di cư khác vẫn đang trong hành trình tìm "miền đất hứa".
Lo ngại của châu Âu
Các nước châu Âu không phải là không có lý do khi quay lưng với dòng người tị nạn. Người dân nhiều nước châu Âu vẫn đang phải vật lộn với nền kinh tế khó khăn, tỷ lệ thất nghiệp cao, việc tiếp nhận một lượng lớn người tị nạn đồng nghĩa phải chi khoản chi phí không nhỏ để chăm sóc, bảo vệ họ.
"Quyết định của chúng ta đầu tiên phải có hiệu quả trong việc giúp đỡ những người thực sự cần, chứ không phải cho những kẻ muốn có cuộc sống tốt đẹp hơn ở châu Âu", Thủ tướng Ba Lan Ewa Kopecz tuyên bố trong một cuộc họp báo tuần trước.
Tác động về chính trị, văn hóa và an ninh của làn sóng người nhập cư cũng là nguyên nhân khiến giới lãnh đạo châu Âu ngần ngại. Đa số những người Syria và Bắc Phi nhập cư đến châu Âu là những người theo đạo Hồi, gây lo ngại về khả năng xung đột văn hóa, tôn giáo giữa với người dân bản địa. Châu Âu cũng lo ngại rằng những tổ chức khủng bố ở Trung Đông và châu Phi như Nhà nước Hồi giáo (IS), al-Qaeda có thể cài cắm các phần tử cực đoan vào dòng người nhập cư để chờ thời cơ thực hiện những vụ tấn công ngay trong lòng châu Âu.

Nga - Trung nhạt tình vì biến động kinh tế

Kỳ vọng Trung Quốc có thể là điểm dựa cho Nga vượt qua khó khăn kinh tế ngày càng xa vời khi Bắc Kinh đang phải đối mặt với vấn đề của riêng mình.
2015-09-03T105547Z-206518909-G-4996-8683
Chủ tịch Tập Cận Bình tiếp Tổng thống Putin tại Bắc Kinh hôm 3/9. Ảnh: Reuters
Theo New York Times, hai thỏa thuận năng lượng lớn mà Trung Quốc và Nga ký kết năm ngoái, trong đó Moscow sẽ bán khí đốt cho Bắc Kinh, đang tiến triển chậm chạp và hầu như không được đề cập khi hai nhà lãnh đạo gặp gỡ sau cuộc duyệt binh trên quảng trường Thiên An Môn.
Thỏa thuận thương mại song phương với kỳ vọng có giá trị hơn 100 tỷ USD nay thực tế mới đạt 30 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm, chủ yếu do nhu cầu của Trung Quốc đối với dầu mỏ của Nga sụt giảm.
Nga đã có mối quan hệ khá nồng ấm với Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới. Tuy nhiên những biến động gần đây của thị trường chứng khoán Trung Quốc, cộng với tốc độ tăng trưởng chậm nhất trong vòng 25 năm khiến Bắc Kinh không thể đem đến những hậu thuẫn mà ông chủ điện Kremlin tìm kiếm, trong bối cảnh Nga bị Mỹ và phương Tây cấm vận kinh tế. Giá dầu thế giới lao dốc cũng là một yếu tố bất lợi khác.
"Nga phụ thuộc vào đà tăng trưởng và nhu cầu năng lượng của Trung Quốc để bán các hàng hóa của mình, gồm dầu, khí đốt và khoảng sản", bà Fiona Hill, chuyên gia về Nga tại Viện Brookings, ở Washington nói. "Trung Quốc là thị trường thay thế cho châu Âu".
Mấu chốt trong mối quan hệ Nga - Trung là thỏa thuận được ký tháng 5/2014, theo đó Trung Quốc sẽ mua khí đốt tự nhiên từ đông Siberia, Nga trong 30 năm, với tổng trị giá lên tới 400 tỷ USD. Lô khí đầu tiên sẽ được giao trong giai đoạn 2019 – 2021.
Trong lễ ký kết tại Thượng Hải, ông Putin khẳng định thỏa thuận là "sự kiện mang tính thời đại", và bày tỏ sự phấn khởi khi Nga đa dạng hóa thị trường khí đốt trước áp lực cấm vận từ phương Tây.
Tuy nhiên, giá bán khí đốt chưa từng được tiết lộ chính thức, và có thể với tình hình giá năng lượng lao dốc thời gian qua, thương vụ này sẽ phải đàm phán lại, ông Jonathan Stern, chủ tịch chương trình nghiên cứu khí đốt tự nhiên tại Viện nghiên cứu năng lượng Oxford, Anh cho biết. Trung Quốc muốn mua khí đốt cho vùng đông bắc ở nước này, còn Nga đã chuẩn bị giao hàng, nhưng việc khoan khai thác vẫn đang hạn chế.
Một thỏa thuận khác, chuyển khí đốt khí tự nhiên từ tây Siberia đến Trung Quốc được ký tắt hồi tháng 11/2014 tại Bắc Kinh, nhưng hợp đồng chính thức vốn được kỳ vọng sẽ ký trong chuyến thăm Trung Quốc vừa qua của ông Putin có vẻ đã phải gác lại, theo ông Stern.
"Đây là hợp đồng mà lẽ ra Tổng thống Putin đã ký, nhưng chúng tôi hiểu rằng việc đó không diễn ra một phần do nhu cầu khí đốt của Trung Quốc hiện có vẻ thấp hơn nhiều so với dự kiến trước đây", ông Stern tuần trước nói.
Một trở ngại khác với thương vụ này là việc Nga gặp khó khăn về nguồn vốn xây dựng tuyến đường ống, và liệu Trung Quốc có thực sự cần khí đốt của Nga đến mức phải tài trợ vốn xây dựng đường ống này hay không, Edward C. Chow, học giả Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) tại Washington phân tích. "Trung Quốc sẽ phải chi trả tiền xây dựng, dù theo cách nào đi chăng nữa, vì Nga đang gặp khó khăn về tài chính", ông Chow nói.
"Các cuộc thương thảo đang đối diện nhiều khó khăn do giá khí đốt lao dốc", Zhao Huasheng, giám đốc Trung tâm nghiên cứu Nga và Trung Á tại đại học Fudan, Thượng Hải nhận định. "Chúng ta phải tính toán lại toàn bộ chi phí và cố gắng đề nghị giảm giá".
Tương tự, tại Moscow, những lạc quan trước đây rằng Trung Quốc có thể hỗ trợ lớn để Nga vượt qua khó khăn về kinh tế cũng đã vơi đi ít nhiều.
"Kỳ vọng rằng Trung Quốc có thể là phao cứu sinh để Nga bám lấy trong giai đoạn bị cấm vận và giá dầu giảm đang không trở thành hiện thực", Alexander Gabuev, một nhà phân tích quan hệ Nga - Trung tại Trung tâm Carnegie Moscow nói. "Đó là mối quan hệ mang tính biểu tượng, với nền móng kinh tế nhỏ và dễ lung lay". Theo ông Gabuev, giới tinh hoa Nga đang thấy thất vọng khi không có gì trở thành hiện thực nhanh như kỳ vọng.
Nhu cầu của Nga đối với hàng hóa Trung Quốc hiện sụt giảm 40% so với cùng kỳ năm ngoái; riêng mặt hàng may mặc giảm tới 50%. Đồng rúp mất ổn định khiến nhà đầu tư Trung Quốc lo lắng, trong khi nỗ lực thúc đẩy hợp tác giữa hệ thống ngân hàng hai nước chưa đơm hoa kết trái, ông nói thêm.
Do mục tiêu kim ngạch thương mại song phương đạt 100 tỷ USD trong năm 2015 khó khả thi, kế hoạch đạt kim ngạch 200 tỷ USD đến năm 2020 cũng có thể là quá lạc quan, giới chức Nga nhìn nhận.
Hai thỏa thuận năng lượng lớn nêu trên không phải những nạn nhân duy nhất của tình hình kinh tế suy giảm. Tương lai tuyến đường sắt cao tốc mà Trung Quốc từng tuyên bố sẽ xây dựng từ Moscow đến Bắc Kinh cũng đang bị hoài nghi, do Trung Quốc yêu cầu Nga phải chi trả cho dự án này.
Giai đoạn một của dự án với chiều dài gần 800 km, nối Moscow và Kazan dự kiến đi vào hoạt động trước năm 2018, khi Nga đăng cai World Cup. Tuy nhiên, đến nay dự án vẫn chưa được khởi công và thậm chí ít khả năng sẽ được thực hiện. "Người Nga không có tiền cho dự án đó còn Trung Quốc sẽ không thể triển khai miễn phí", bà Hill nói.
Triển vọng
Mối quan hệ giữa ông Putin và ông Tập càng ngày càng nổi bật và thu hút sự chú ý trong nội bộ hai nước, bởi cả hai đều mong muốn xây dựng hình ảnh nhà lãnh đạo mạnh mẽ, thậm chí là táo bạo. Tại một cuộc họp các nhà lãnh đạo châu Á tại Bali, Indonesia năm 2013, ông Tập từng tặng bánh sinh nhật cho ông Putin. Tháng 11/2014, tại Bắc Kinh, ông chủ điện Kremlin tặng ông Tập một chiếc điện thoại di động do Nga sản xuất.
"Đến gần đây hai bên mới có quan hệ mật thiết", bà Hill nói. "Thành công của Trung Quốc khiến Nga quan tâm". Cho dù kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại, đây vẫn là thị trường "tươi sáng" cho Nga so với châu Âu và Ukraine.
Hai nhà lãnh đạo đều nói rằng quan hệ song phương Nga - Trung đã ở tầm đối tác chiến lược. Gần đây, hai nước có những cuộc tập trận hải quân chung trên Địa Trung Hải và biển Nhật Bản. Họ có quan điểm tương đồng về vấn đề Iran và phản đối các đề xuất của Mỹ về Libya và Syria.
Tuy vậy, hai nước có khác biệt về lợi ích chiến lược mỗi bên quan tâm. Trung Quốc thận trọng trước động thái của Nga tại Crimea và đặc biệt là Ukraine, nơi Bắc Kinh có những khoản đầu tư thương mại và quân sự. Trung Quốc cũng lo ngại việc Crimea tách khỏi Ukraine có thể tạo tiền lệ cho các vùng lãnh thổ ở Trung Quốc.
Tại Trung Á, Moscow và Bắc Kinh luôn cạnh tranh với nhau thay vì hợp tác hữu nghị, đặc biệt là khi Trung Quốc mua năng lượng từ các nước từng nằm trong trường ảnh hưởng của Nga. Đây là mặt hàng mà nếu muốn, Trung Quốc có thể mua từ Nga.
Chính quyền Obama dường như khá thờ ơ trước tình bạn Nga - Trung, cho rằng Nga sẽ không tránh khỏi là gánh nặng cho Trung Quốc, đặc biệt là trong thời buổi kinh tế khó khăn. Douglas H. Paal, tại Quỹ Carnegie vì Hòa bình quốc tế cho rằng "Washington dường như nghĩ rằng Moscow là gánh nặng hơn là mối lợi cho Bắc Kinh".

Liệu Putin có điều quân tham gia tiêu diệt IS

Nga có thể đang thể hiện mong muốn tham gia liên minh chống IS ở Syria để hàn gắn mối quan hệ rạn nứt với phương Tây, tuy nhiên, Mỹ và châu Âu dường như khá lạnh nhạt trước khả năng này.
020F78930000044D-0-image-m-31-1510-2166-
Tổng thống Nga Putin (phải) và Tổng thống Bashar al-Assad. Ảnh: AP
Thông tin về việc Nga củng cố quân sự tại Syria đang khiến Mỹ lo ngại và đặt ra câu hỏi liệu Moscow có kế hoạch can thiệp vào cuộc xung đột trong nước này hay không. Theo các quan chức quốc phòng Mỹ, Washington thấy có sự gia tăng trong số máy bay vận tải Nga xin chấp nhận ngoại giao để bay vào Syria, không rõ máy bay chở gì và mục đích của chúng là gì.
Các quan chức Mỹ cho biết họ cũng quan sát thấy việc di chuyển một số nhà lắp ghép tại Syria, nhưng họ không thấy quân đội di chuyển vào đó hay tham gia các hoạt động chiến đấu thực tế.
Trong khi đó, Nga trả lời rằng họ vốn luôn hỗ trợ thiết bị và huấn luyện cho quân đội Syria và đang duy trì việc này. Kể từ thời Liên Xô, Nga đã có quan hệ chính trị và quân sự chặt chẽ với Syria. Nga có căn cứ hải tại cảng Tartus ở nước này để phục vụ và tiếp tế tàu thăm viếng.
Các nhà quan sát ở Moscow nói rằng việc điều động của Nga có thể là một phần trong kế hoạch gửi quân tới Syria để chống lại nhóm Nhà nước Hồi giáo (IS), với hy vọng hàn gắn mối quan hệ rạn nứt với phương Tây. 
Đầu mùa hè này, điện Kremlin đã đưa ra một kế hoạch hòa bình cho Syria, phác thảo việc kết hợp với lực lượng chính phủ Syria và Iran trong liên minh chống IS. Tuy nhiên, một vài vòng đàm phán với Mỹ và Arab Saudi sau đó không mang lại kết quả đáng kể. Hiện giờ, Moscow dường như đang thử dư luận trước khi đưa ra động thái tiếp theo là tăng cường hiện diện quân sự tại Syria.
Theo National Post, khi thể hiện khả năng gia nhập liên minh chống IS, Putin có thể hy vọng giành được một số nhượng bộ quan trọng. Mục tiêu chính của ông Putin là dỡ bỏ lệnh trừng phạt của phương Tây và bình thường hóa quan hệ với Mỹ và Liên minh châu Âu (EU). Ngoài ra, nhà lãnh đạo Nga có thể đang tìm cách để làm phương Tây chấp nhận nhiều hơn vai trò của Moscow trong khủng hoảng Ukraine, trong khi vẫn giữ ảnh hưởng tại Syria.
Alexander Golts, một nhà phân tích quân sự độc lập, cũng nhận định rằng ông Putin thấy việc gia nhập liên minh chống IS là cơ hội để tái lập quan hệ với phương Tây. "Nga cảm thấy bản thân bị cô lập, và ngày càng cảm thấy điều đó", ông nói. Golts cho rằng những thông tin mới nhất về việc chuyển hàng hóa quân sự đến Syria của Nga dường như chứng minh sự sẵn sàng của Moscow trong việc tham gia liên minh chống nhóm cực đoan
Trong khi ông Putin tuần trước nói rằng "vẫn chưa" có đàm phán về việc quân Nga tham gia cuộc chiến chống IS, ông dường như để cửa mở cho khả năng này, nói rằng "chúng tôi đang tìm kiếm những lựa chọn khác nhau". Nhà lãnh đạo Nga dự kiến sẽ tham dự Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vào cuối tháng này, một số nhà phân tích nói rằng đề nghị triển khai quân tới Syria có thể là tâm điểm của chuyến công du.
Sergei Karaganov, người sáng lập Hội đồng Ngoại giao và Chính sách Quốc phòng, một hiệp hội hàng đầu của các chuyên gia chính trị Nga, nói rằng Moscow đang xem xét khả năng tham gia liên minh chống IS, nhưng phương Tây cho đến nay không hoan nghênh việc này. "Họ miễn cưỡng trước đề xuất của Tổng thống Putin", ông nói.
Karaganov, người có mối quan hệ tốt với các quan chức Nga, cho rằng nếu nhận được phản ứng lạnh nhạt từ Mỹ và đồng minh, Nga sẽ không lựa chọn hành động quân sự đơn phương ở Syria.  "Việc này sẽ dẫn đến rủi ro rất lớn", ông nói.
Igor Korotchenko, đại tá về hưu của Bộ Tổng tham mưu quân đội Nga, hiện là biên tập viên tạp chí National Defence, cũng cho rằng trong khi Nga đã cung cấp vũ khí cho chính phủ Assad, họ không có ý định gửi quân đến Syria.
"Nga sẽ không gửi quân đến Trung Đông, phương án này hoàn toàn bị loại trừ", ông nói. "Đó là vấn đề của Mỹ. Nga sẽ không đánh đổi điều đó lấy mạng sống những người lính của mình".
Pavel Felgenhauer, một nhà phân tích Moscow, nói rằng sự gia tăng hiện diện của Nga tại Syria có thể là một phần của nỗ lực của Kremlin nhằm gia tăng áp lực với Mỹ để chấp nhận kế hoạch hòa bình của Putin.
"Một liên minh như vậy sẽ giúp chính quyền Assad giữ quyền lực và cho phép Nga duy trì sự hiện diện của mình tại Trung Đông", ông nói.
Alexei Malashenko, một chuyên gia về Trung Đông ở trung tâm Carnegie Moscow bày tỏ hoài nghi, nói rằng nếu Nga thật sự muốn dùng Syria để cải thiện quan hệ với phương Tây thì kế hoạch này cũng sẽ khó thành công. 
Malashenko cảnh báo rằng việc triển khai binh sĩ Nga để chống lại IS sẽ mang đến nguy cơ bị trả thù và nâng cao mối đe dọa khủng bố đối với Nga."Người Nga cũng sẽ chẳng hân hoan đón nhận việc này", ông nói.
 
Blogger Templates